Bánh gai, món ngon của người Tày, Nùng Cao Bằng



Bánh gai là một thứ quà quê quen thuộc với nhiều người. Bánh gai Hải Dương ngon có tiếng, bánh ít lá gai Nam bộ cũng thật hấp dẫn… nhưng bánh gai của người Tày, Nùng ở Cao Bằng thì phải nói khá là đặc biệt.
 
Bánh gai Cao Bằng gắn liền với một truyền thuyết. Người dân nơi đây vẫn kể rằng vào thời vua Lý Thái Tông (đầu thế kỷ 10), giặc Tống sang xâm lược nước ta, thủ lĩnh của người Cao Bằng là Nùng Trí Cao đã chỉ huy quân dân vùng biên ải đánh giặc. Đồng bào làm bánh gai cho các chiến binh đem theo làm lương khô ra trận. Bánh được xâu thành từng cặp để đeo bên người cho tiện cho nên người Tày, Nùng gọi là pẻng tải (bánh đeo). 

Gạo để làm bánh phải là loại nếp ngon, không lẫn tẻ, có vậy bánh mới mềm và dai, ăn không cứng. Nếp được ngâm chừng một buổi cho no nước, xay trong cối đá thành một thứ bột đặc sánh, đựng trong túi vải, treo lên cho róc nước.

Lá gai đã được hái về từ trước, tước bỏ gân lá, phơi khô. Lá khô đem ninh, khi đun bỏ thêm chút vôi tôi cho mau nhừ. Xong, rửa sạch, vắt khô, thái mịn. Đường phên (một loại đường thẻ, miếng to chừng bàn tay) đun cho sôi chảy rồi trộn với lá gai thành một thứ mật sền sệt. Người ta nhào mật này với bột cho đều rồi đem giã trong cối đá cho thật nhuyễn.

Bột giã xong có màu xanh đen, mịn màng, dẻo quánh. Mùi nếp, mùi mật, mùi lá gai quyện vào nhau thơm nức.

Bánh gai gói bằng lá chuối, hình dẹt. Nhân bánh gai được làm bằng lạc rang giã nhỏ hoặc đỗ xanh trộn đường. Bánh hấp trong chõ như đồ xôi. Từ lúc nước sôi cho đến khi bánh chín, chừng tàn

Khi ăn, không thể lột bỏ lá bánh một cách vội vàng được. Phải thong thả tước lá thành từng sợi để bánh khỏi dính theo lá. Chiếc bánh bóc ra đen nhánh, mịn màng như một lát thạch. Bánh có vị ngọt sắc của đường, vị dẻo thơm của nếp và lá gai, vị bùi của nhân đậu. Ăn không ngấy.

Bánh gai có thể để nhiều ngày mà không sợ mốc. Nếu để lâu, bánh khô, người ta có thể đem nướng trên than hồng, bánh nở phồng, ăn vẫn ngon. Hoặc có thể đem rán lại cho bánh mềm, ăn có vị ngon riêng.

Trước kia, người Cao Bằng thường chỉ làm bánh gai vào dịp rằm tháng bảy, vừa để cúng tổ tiên, ông bà vừa để ôn lại câu chuyện về những ngày hào hùng xưa kia. Bây giờ bánh trở thành một món quà dân dã, thường có bán trong những ngày chợ phiên, những quán nước. Khách nơi xa đến Cao Bằng bao giờ cũng mua lấy mươi cặp bánh gai đem về làm quà cho người thân, như để giới thiệu một chút văn hóa của một vùng đất biên cương.
[Read More...]


Bánh nẳng - quà của núi rừng



Bánh nẳng là loại bánh dân dã thường được làm trong những ngày lễ tết của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Ở mỗi vùng niềm cách thức làm bánh nẳng có sự khác nhau tạo nên nét riêng biệt rất riêng cho hương vị bánh.

Nguyên liệu chính để làm nên bánh nẳng vừa dẻo thơm, vừa ngon mắt là gạo nếp và nước nẳng. Sự khéo tay của người đầu bếp được thể hiện ở khâu chế nước nẳng, bánh ngon hay không phụ thuộc rất nhiều vào điều này.
Những người phụ nữ khéo léo đang hoàn thành công đoạn gói chiếc bánh nẳng

Nước nẳng được chưng cất bằng các loại lá cây, vỏ cây, vỏ quả từ tự nhiên của rừng núi như: lá trầu không, cây đu đủ, cây mận, cây bưởi, vỏ chuối tiêu, vỏ quả sở … Các loại cây sau khi được phơi khô thì đốt thành than đem hòa với nước vôi sau đó gạn cho nước thật trong thì thành nước nẳng để dùng. Một cách hay được bà con áp dụng để kiểm tra xem nước nẳng đạt yêu cầu hay chưa thường dùng lá trầu không nhúng vào khoảng 15-20 giây, vớt ra và bỏ vào miệng nhai mà thấy nước bọt đỏ như nước nhai trầu là được.
Đối với gạo làm bánh nẳng phải là thứ nếp ngon, hạt tròn còn vương mùi nếp mới không dùng gạo nát, cần phải sàng sảy kĩ loại bỏ tấm đem vo sạch. Sau đó, đun cho nước nẳng sôi thêm một lần nữa, khi nước còn âm ấm thì đổ gạo vào ngâm khoảng sáu tiếng đồng hồ thì vớt ra đem gói.
Bánh nẳng phải được làm từ những hạt nếp đều, mẩy, ngon và thơm mùi nếp mới
Thông thường lá măng mai, lá dong hay lá chít đều có thể dùng gói bánh. Nhưng lá chít gói bánh nẳng là ngon nhất. Mỗi chiếc bánh nẳng nhỏ và được buộc lạt như bánh chưng Tày. Khi luộc phải đổ nước liên tục, nước phải ngập phần bánh trong nồi, không được để cạn, đến lúc sôi hạ nhỏ lửa để bánh chín rền hơn. Thời gian luộc càng lâu càng tốt, ít nhất 5 tiếng đồng hồ. Bánh luộc xong có màu vàng như mật, có vị đậm, mát.
Bánh nẳng làm xong có màu mật đậm, vị mát dịu đặc trưng
Bóc từng lớp lá chít ra người ăn đã cảm nhận được vị thơm ngon từ miếng bánh của núi rừng, mùi thơm của bột gạo nhẹ nhàng đầy quyến rũ kết hợp với vị mát dịu đặc trưng của các loại lá cây, mùi thoang thoảng của lá chít khiến bánh nẳng càng lôi cuốn hơn. Cầm miếng bánh chấm vào đĩa mật mía vàng óng hoặc đường đưa lên miệng sẽ thấy hương vị tinh túy nhất của trời đất ẩn trong bánh.
Theo Lao động
[Read More...]


Rêu đá – thịt chua: Món ăn độc đáo của người Thanh Sơn



Rêu Đá Thanh Sơn

Sang thu, tiết trời vùng cao chớm lạnh. Những mái nhà sàn xam xám của đồng bào Mường nhòe đi trong màu sương bàng bạc của núi rừng. Về trưa, nắng bắt đầu hồng dần trên những nương lúa, nương ngô, rồi đỏ ửng trên đôi má những cô gái xuống suối bắt rêu.
Hầu hết các xã Đồng Sơn, Thu Cúc, Thượng Cửu… mà tôi có dịp đặt chân tới đều coi rêu đá như một món rau sạch đặc biệt của vùng cao. Người miền xuôi lên đây, phải được đồng bào quý lắm mới có dịp thưởng thức. Muốn ăn rêu sạch, non phải chọn nơi nước suối chảy xiết, có nhiều tảng đá to (nơi rêu bám vào để phát triển). Đồng bào gọi là “bắt” rêu vì coi nó là một loại thực phẩm như cá hay cua suối. Rêu được “bắt” thành từng dây dài, tùy từng khúc suối sâu hay nông mà có màu xanh lục hay xanh non. Rêu được bỏ vào rổ, giặt qua nước suối nhằm loại bỏ cát hoặc chất bẩn, bỏ lên một tảng đá to, có mặt bằng phẳng rồi dùng một khúc gỗ to để đập. Sơ chế rêu cũng đòi hỏi phải có tính kiên nhẫn vì phải giặt và đập rêu tới vài lần mới sạch. Cả một rổ rêu đá lúc này chỉ còn đủ dùng trong một bữa. Màu rêu đá xanh đậm, sờ vào mềm và mát như lụa.

Rêu đã làm sạch được tẩm ướp gia vị. Đó là tỏi thái mỏng, muối, mì chính, cộng thêm hành và chút mỡ lợn rồi trộn đều, dùng lá đu đủ gói thành nhiều lớp buộc chặt lại. Thông thường món ăn này được làm vào buổi tối vì đó là lúc có mặt đông đủ mọi thành viên trong gia đình. Bên bếp lửa bập bùng, họ vừa nấu cơm, vừa vùi rêu vào than hồng. Lớp lá đu đủ bén lửa bốc lên mùi cay cay, thơm thơm.
Đợi đến khi những lá đu đủ bên ngoài chuyển thành màu đen, họ mới bóc từng lớp lá ra. Mùi tỏi và hành quyện với mùi nồng nồng của rêu đá tạo nên một hương vị rất riêng. Tôi nếm thử món ăn đặc biệt này. Rêu giờ đây giống như món tảo biển có vị ngầy ngậy, mềm mềm, ngon mà không ngấy.

Đến với vùng núi cao Thanh Sơn, nói tới ẩm thực truyền thống của đồng bào dân tộc, người ta thường nghĩ tới món thịt chua làm từ lợn lửng hay món cơm nếp nương thơm khắp cả gian nhà, mà ít ai nghĩ rằng món rêu đá - món rau bình dị nhưng cũng thật lạ chính là nét độc đáo, ít nơi có được.

Thịt chua

Thịt chua cũng là một loại đặc sản của người Mường vùng Thanh Sơn – Phú Thọ. Nếu ai đã từng thưởng thức chắc hẳn sẽ không quên hương vị đặc trưng của nó.

Thịt lợn để làm món thịt chua phải là loại lợn lửng được người Mường nuôi tự nhiên, quanh năm ăn củ và trái cây rừng, loại thịt lợn bán ngoài thị trường không thể cho ra món thịt chua thơm mát, béo ngậy và khô ráo được. Loại lợn này thường chỉ nặng từ 15kg-30kg, thịt ít mỡ và rất thơm, người ta sẽ chọn vùng nạc vai, nạc mông và nạc thăn đem thui chín cùng các loại lá thơm sau đó thái ra thành từng lát nhỏ, ướp cùng thính. Thính được làm từ bột ngô, bột gạo, bột đậu xanh rang vàng. Khâu rang thính phải đảm bảo được yêu cầu thính chín kĩ, vàng thơm và không bị cháy, sau đó xay nhỏ.
Thịt được trộn đều với thính sao cho bột thính bám thật đều trên bề mặt các miếng. Người Mường sẽ chuẩn bị những ống nứa to rửa sạch, để khô, lót lá ổi xuống dưới rồi cho thịt đã được ướp thính vào, đậy lớp lá ổi lên trên bề mặt và nút chặt miệng ống lại. Khi làm xong người ta thường treo lên hoặc bảo quản ở những nơi cao ráo, thoáng đãng. Thời gian đảm bảo cho thịt lên men và dùng được là từ 4-5 ngày vào mùa hè, từ 5-7 ngày vào mùa đông.

Thịt sau khi thành phẩm sẽ khô, tơi, chín đều, chua, ngọt, thơm ngậy vừa miệng. Khi ăn kèm với bánh đa nường và các loại lá như: lá sung, lá ổi, lá mơ, lá đinh lăng, rau thơm,v.v… chấm kèm với tương ớt thêm chút hạt tiêu… mà lai rai với chút rượu ngô Nà Hang thì càng tuyệt vời.
Theo Việt Báo
[Read More...]


Bánh đúc Hà Nội



Bánh đúc vốn dễ tính, ăn nóng cũng ngon mà ăn nguội cũng không vấn đề gì. Chỉ có điều, cách thức làm bánh mỗi nơi mỗi khác. Bánh đúc Hà Nội thì có vẻ hơi cầu kỳ, nhiều tiểu tiết
Hà Nội những ngày se se lạnh mà được thưởng thức một bát bánh đúc thịt nóng ở phố Lê Ngọc Hân thì khỏi phải bàn, cứ gọi là khoái khẩu. Ở ngõ Xã Đàn 2 hay chợ Đồng Xuân cũng có hàng bánh đúc ngon đáo để, khách gửi xe một góc rồi ngồi xổm trong chợ mà bốc bánh cũng thú lắm. Bánh đúc có thịt băm, mộc nhĩ nhưng cũng có người chỉ thích loại bánh đúc lạc chấm tương dân dã. Mỗi loại một cách làm và đem lại hương vị riêng, rất lạ.
Ngõ nhỏ, phố nhỏ…quán tôi ở đó

Phố Lê Ngọc Hân – một con phố khá nổi tiếng ở Hà Nội bởi có hàng bánh đúc thịt vừa ngon, vừa rẻ. Quán nằm trong ngõ, không chỉ có bánh đúc rất ngon mà còn có bún ốc, phở xào… ngon không kém. Giá rất rẻ khoảng 7-10 nghìn/1 bát bánh đúc. Ngày trước, giá chỉ có 5.000đồng/bát thôi. Cứ chiều sớm là đông khách rồi. Quán chỉ có mấy cái ghế nhỏ. Không có ghế thì bưng bát đứng hay ngồi xổm mà ăn. Thời còn đi học, chúng tôi vẫn truyền nhau câu này: “Ăn đến môi trôi đến họng”, ý nói bánh đúc ở đây vừa trắng, vừa mịn, vừa mềm lại mát nữa. Hoặc giả trong dân gian có câu truyền: “Ai đời bánh đúc có xương…” là cũng bởi lý do này, ăn vào là cứ trơn tuột. Bánh đúc ở đây có thịt băm nhỏ trộn mộc nhĩ, hành… nêm rất vừa, nóng sốt, cộng với mùi thơm của hành phi thì ngon phải biết. Khách quen của quán còn đòi bằng được ăn cháy bánh đúc cuối nồi. Hôm nào đến muộn là hết sạch, cứ tiếc ngẩn ngơ.

Có lần tôi đánh bạo hỏi bí quyết làm bánh của bà chủ. Cứ tưởng sẽ bị bà “quạt cho một trận” vì dám động đến nghề gia truyền nhà bà, ấy vậy mà bà vui vẻ kể cho hết. Từ cách xay gạo, ngâm gạo đến nêm gia vị sao cho vừa. Về nhà, mấy đứa hí hửng làm theo. Cũng công thức chế biến ấy, cũng phi hành thơm như ai, nhưng bánh nhão nhoét, đắng ngắt.

Hà Nội còn nhiều nơi bán bánh đúc thịt, bánh đúc lạc khá nổi tiếng như ở ngõ Xã Đàn 2 hay chợ Đồng Xuân cũng có một hàng ngon đáo để. Xa hơn một chút thì tìm trong các chợ ngoại thành như chợ Thanh Trì, chợ xã Đại Mỗ, Đôn Anh… Thi thoảng vào các nhà hàng sang trọng, tôi cũng thấy thực đơn ghi có bánh đúc, cái món bánh dân dã này mà ngồi ăn trong phòng điều hòa thì không đúng kiểu nên tôi không gọi.

Lửa riu riu…

Ở chợ xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm có một hàng bánh đúc lạc rất ngon, chỉ bán một lúc buổi sáng là hết sạch. Bánh được đúc theo hình chiếc đĩa trong tròn, dẹt dẹt. Mỗi lần có khách, chị chủ hàng lấy bánh cắt ra từng miếng nhỏ, trắng phau ăn rất vừa miệng. Bánh của chị ăn rền, chắc, không nồng. Có hôm tôi xin chị mấy sợi dừa nạo rắc lên bánh ăn thơm, ngậy lại mát.

Bí quyết để làm được bánh đúc ăn rền mà chắc cũng không cầu kỳ lắm. Gạo ngon ngâm kỹ từ hôm trước, nước vôi phải trong. Chị hay lấy thứ nước vôi được ngâm từ năm trước. Khâu pha nước vôi là quan trọng nhất trong cả công đoạn làm bánh, chỉ xuê xoa một chút là cả nồi bánh đúc coi như bỏ. Khi đun phải quấy bánh thật đều tay nếu không sẽ bị vón cục ngay. Lửa chỉ để liu riu thì bánh mới chín đều và không bị khê, lúc đánh lên thả xuống bánh phải chảy như tơ mới được. Rồi tới lúc gần được thì phải khoanh lửa lại, om tro một lúc rồi đổ dừa vào. Khi bánh gần đổ ra khuôn thì đánh lạc đã rang chín. Khuôn đổ bánh đúc có thể là mâm nhôm hay mẹt sâu, nhưng bánh để bán thì thường là khuôn nhỏ hình chiếc đĩa hoặc cái bát tô. Nhiều người thích ăn bánh đúc với nước tương, cũng có người bẻ bánh ra rồi chấm tương cũng thú.

Thỉnh thoảng có khách ghé chơi nhà, nhiều người vẫn hay chạy ra chợ sớm mua mấy khoanh bánh đúc lạc, không quên lấy một bát tương con con điểm thêm vài lát ớt cho thêm vị. Người Hà Nội coi bánh đúc như một thứ ăn chơi bời, thơm thảo, nhưng cũng không kém phần khó tính. Vì thế dù là món ăn đơn giản nhưng lắm lúc cũng phải cầu kỳ một chút cho ra bài ra bản…

Ở khắp ba miền, hầu như vùng nào cũng có bánh đúc nhưng tên gọi và cách chế biến đôi khi có khác. Bằng chứng là có nhiều loại bánh đúc với nhiều tên gọi khác nhau như: Bánh đúc lạc, bánh đúc bột năng, bánh đúc mặn, bánh đúc ngô, bánh đúc nộm, bánh đúc mỡ hành, bánh đúc nước cốt dừa, bánh đúc hến, bánh đúc riêu cua… Loại bánh đúc phổ biến ở Hà Nội là bánh đúc lạc. Bánh đúc vốn dễ tính, có thể ăn nóng hay nguội tùy thích nhưng ăn nóng vẫn ngon hơn, nhất là trong tiết trời đang bắt đầu se lạnh.

Nguồn: Monngonvietnam
[Read More...]


Bánh đậu xanh Hải Dương



Ra đời vào đầu thế kỷ 20 tại thị xã Hải Dương, bánh đậu xanh đã sớm trở thành sản vật đặc trưng nhất của Hải Dương, một vùng đất nhỏ bé ở đồng bằng sông Hồng.

Bánh đậu xanh không quá cầu kỳ mà thật giản dị, mộc mạc nhưng lại chứa đựng hương vị nồng nàn của miền quê Bắc Bộ.Để làm bánh phải dùng bằng bột đậu xanh nguyên chẩt, hương thơm thuần khiết không vướng mùi hương liệu công nghiệp. Bánh ngon làm bằng bột ướt, có trộn mỡ, đường vừa phải để tạo độ ngọt thanh cho bánh và bánh phải béo ngậy, thơm mùi đậu xanh. Thưởng thức bánh đậu xanh ngon nhất là cùng với chén nước chè Thái Nguyên. Vị ngọt béo của bánh với vị chát, ngăn ngắt đắng của trà làm tôn lên vị ngon của bánh đậu xanh. Nhấm một miếng bánh và chiêu ngụm trà, sẽ cảm nhận được vị ngọt thanh và hương thơm nhẹ nhàng của bánh lan toả.



Vùng đất đồng bằng sông Hồng trù phú với những sản vật thiên nhiên đã tạo nên loại bánh đậu xanh Hải Dương quyến rũ đến lạ kỳ. Một lần thưởng thức bánh sẽ không thể quên hương vị tinh khiết của miền quê Bắc Bộ. Những tên tuổi Bánh đậu xanh Quê Hương, Bánh đậu xanh Nguyên Hương, Bánh đậu xanh Rồng Vàng đã góp phần tạo nên tên tuổi cho vùng đất này.
[Read More...]


Bún cá - Hương sắc ẩm thực Hải Phòng



Hải Phòng - thành phố cảng biển này đã chắt lọc, giữ lại cho mình những hương vị ẩm thực đầy cá tính. Bún cá chính là một trong những hương vị đó.

Bún cá Hải Phòng là sự kết hợp nhuần nhuyễn hải sản và những sản vật từ đồng ruộng. Cá trong bát bún gồm: chả cá và cá rán xắt khúc. Chả cá tạo ra hương vị đặc biệt nhất cho món bún này, đồng thời nó cũng là thành phần quan trọng để quyết định sự ngon miệng của bát bún. Chả cá phải được làm bằng cá thu, thịt cá được lọc ra giã nhuyễn với thì là, hạt tiêu, kèm một chút bột nghệ cho ngon mắt... Cùng với chả là miếng cá xắt khúc chỉ dày khoảng một đốt ngón tay làm từ cá đồng, thường là cá trôi, cá trắm. Nét tinh tế của ẩm thực thể hiện rất rõ ở thịt cá đồng ngọt lại không tanh. Nước dùng phải được ninh bằng xương ống lợn với nước luộc xương cá biển mới ngọt và có mùi đặc trưng.



Ăn bún cá không thể quên rau muống thái nhỏ, rổ rau sống ngon nhất là vào mùa đông với đầy đủ xà lách, kinh giới, húng... Đặc biệt, dù mùa nào cũng không thể thiếu hoa chuối thái mỏng với vị vừa bùi vừa chát. Người ta khó có thể quên ấn tượng về bát bún cá với màu vàng của chả cá, cá rán, màu xanh thấp thoáng của dọc mùng, màu đỏ của tương ớt trên màu trắng tinh của bún ngập trong nước dùng trong veo đang bốc khói.

Món bún cá tuyệt vời ở chỗ không đem lại cảm giác no ngấy cho người ăn. Vì vậy, sau mấy ngày Tết bún cá được bày bán ở khắp các phố ở Hải Phòng. Nó được coi như món ăn để át đi vị thịt mỡ của những ngày Tết.
[Read More...]


Chè hoa cau: Món quà thanh tao của người Tràng An




Cái vị ngọt thanh thanh, cùng hương hoa bưởi nhẹ nhàng hòa quyện đã khiến cho bát xôi chè trở thành món quà quen và đặc trưng của người Hà Nội.
Nhìn bát chè hoa cau nhỏ xinh, được bày biện thật thích mắt, ấy vậy mà những nguyên liệu làm nên bát chè khá giản đơn và mang đậm hương vị quê hương với bột sắn, nước dừa, hoa bưởi, đậu xanh. Tuy vậy, chè hoa cau được chế biến hết sức tỉ mẩn và người chế biến cũng phải rất tinh tế thì mới cho ra được bát chè hoa cau đúng hương vị của nó.


Theo bí quyết của người Hà Nội, đỗ dùng để nấu chè phải là loại đỗ hạt tiêu tuy nhỏ nhưng vàng và thơm, hạt đầy thịt, không bị lép. Bột năng thì cho nước vào quấy tan, lọc lại cho bột mịn. Phải đun lửa liu riu và thao tác khuấy bột cũng phải thật đều tay, thấy nước hơi sánh lại là ngừng ngay để bột không bị quá già mà cũng không quá non. Vừa khuấy, vừa trộn với hỗn hợp nước được nấu với hoa bưởi, đỗ xanh vào thật đều tay. Nếu người chế biến chỉ cần sơ ý khuấy già tay một chút, món chè sẽ đánh mất hương vị tự nhiên của hoa bưởi.
Chè hoa cau bao giờ cũng có độ ngọt thanh vừa phải. Bát chè múc ra phải đạt được độ sánh mượt cần thiết cùng những hạt đỗ xanh đồ chín tới. Đỗ rắc khéo để không chìm, không vón cục mà chỉ lơ lửng như hoa cau vàng ươm, nhẹ nhàng, tinh khiết. Người Hà Nội xưa còn hết sức tỉ mỉ trong công đoạn trình bày. Chén múc chè phải làm nóng trước, úp mấy bông hoa bưởi mới nở, sao cho hương hoa bám vào chén chè, thơm nhẹ nhàng và ý nhị, để hương hoa bưởi hài hòa thấm đượm vừa đủ cả trong chè lẫn bát chè.
Cuối cùng, chế nước dừa thắng lên mặt những bát chè nồng nàn hương hoa, để màu trắng đục của nước dừa quyện vào cái thanh, cái ngọt của vị chè làm mát lạnh lòng người thưởng thức. Mỗi bát chè nhỏ xinh với hương thơm nhẹ lan tỏa, cùng đĩa xôi vò vàng ươm, vị bùi bùi, đậu nhiều hơn đỗ. Món chè hoa cau chỉ thưởng thức bằng bát nhỏ, để cảm nhận cái hương cái hoa, cái vị thanh ngọt nồng nàn khó quên của món chè.
Người ta thường ví món chè hoa cau như người Hà Nội, nhẹ nhàng thanh tao nhưng thật nồng nàn và khó quên. Người Hà Nội sành ăn lắm, mùa nào thức ấy, họ chọn những thức ăn đầu mùa, thật tươi, thật ngon để thưởng thức. Còn những thức ăn trái mùa người Hà Nội thường không để ý tới. Và ngay cả trong một ngày, có thứ quà người Hà Nội chỉ dùng trong buổi sáng, có thứ lại chỉ dùng cho buổi tối. Như món chè hoa cau, người Hà Nội thường dùng làm bữa ăn nhẹ vào buổi chiều. Chả thế mà đã có không biết bao nhiêu vần thơ, câu văn miêu tả tràn đầy xúc cảm về những gánh hàng rong rong ruổi khắp phố phường Hà Nội với những món ăn chơi trong buổi xế chiều. Hình ảnh chị bán hàng rong giữa dòng người tấp nập, ngồi góc phố cổ, tay múc bát chè hoa cau nóng hổi với hương thơm nhẹ mà lan tỏa, với đĩa xôi vò đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Hà Nội và của mỗi vị khách du lịch khi đến với thành phố văn hiến này.
Cho dù món chè hoa cau của người Hà Nội xưa có nhiều thay đổi, thì cái hồn của bát chè hoa cau, cái tinh túy của ẩm thực Hà thành vẫn còn được lưu giữ, để món quà thanh tao ấy luôn là nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Tràng An. Món chè hoa cau Hà thành đặc biệt ở cái khéo léo của người chế biến, sự tinh tế của người thưởng thức và ở cái tình của người trao người nhận.
Theo Tạp Chí Ẩm Thực
[Read More...]


Đặc sản mắm cá ruộng Chiêm Hóa, Tuyên Quang



Bên cạnh những đặc sản nổi tiếng như rượu nếp cái hoa vàng, bánh gai, xôi bảy màu, vùng đất Tuyên Quang còn nổi tiếng với món mắm cá ruộng. Đây vừa là món ăn truyền thống, cũng vừa là một vị thuốc độc đáo của đồng bào dân tộc Tày từ bao đời nay.
Bắt cá ruộng
Để làm ra một hũ mắm cá đòi hỏi khá công phu, phải mất 3 tháng nuôi cá ở ruộng và 10 tháng ủ men làm mắm, nhưng bù lại hương thơm tuyệt hảo của nó thì vị khách khó tính nhất cũng khó có thể cưỡng lại.
Theo bí quyết mà các cụ già truyền lại thì để làm món ăn này phải chọn đúng loại cá chép nuôi ở ruộng, to chừng khoảng hai ngón tay, mổ moi ruột sạch sẽ, để ráo nước. Khâu mổ cá phải thật khéo, không được làm vỡ mật cá, nếu không mắm sẽ có vị đắng. Tiếp đó đem cá đã làm sạch xát muối; giềng, hành thái lát mỏng trộn đều rồi đổ vào hũ, mùa hè thì ủ từ 3-5 ngày, mùa đông phải khoảng 1 tuần. Trong thời gian ủ cá thì đồ xôi nếp, rắc men lên rồi đậy kín. Cuối cùng là hái lá cơm đỏ, lá trầu không về thái chỉ, trộn đều với cá và xôi nếp đã lên men. Sau đó đem đổ vào hũ, bịt thật kín. 10 tháng sau mở hũ mắm ra là dùng được.
Món mắm ngon phải có màu đỏ tía, dậy mùi thơm nức, không có mùi tanh, hôi. Trải qua 10 tháng ủ trong hỗn hợp, cá phải chín cả thịt lẫn xương mới đạt yêu cầu.
Mắm cá ruộng có rất nhiều cách thưởng thức. Ngoài dùng để chấm các loại thịt luộc, rau luộc, rau sống, bà con còn dùng để xào với trám om đã bỏ hột, sẽ có món ăn mang hương vị vô cùng độc đáo. Đặc biệt, mắm cá ruộng còn là vị thuốc giải rượu, giải độc rất tốt. Thường sau khi ăn gần hết hũ mắm, bà con để lại một ít để phòng trong nhà có người bị say rượu, trúng gió hay bị ngộ độc nhẹ. Chỉ cần múc ngay một ít mắm cho người đó uống, sẽ giảm nhanh các triệu chứng khó chịu.
Mắm cá ruộng không chỉ là món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc Tày Chiêm Hóa mà giờ đã trở thành thương hiệu được du khách trăm miền biết đến. Bởi hương vị đặc trưng của thứ đặc sản này khiến cho ai đã từng một lần thưởng thức sẽ không khỏi ngạc nhiên, thích thú để rồi ngây ngất, khó quên.
Nguồn: Báo Tuyên Quang
[Read More...]


Thịt trâu khô – đặc sản vùng Tây Bắc



Các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc có rất nhiều món ăn độc đáo, thể hiện bản sắc và đặc điểm sinh hoạt vùng, miền. Trong tất cả đặc sản của các dân tộc vùng cao, đặc trưng nhất vẫn là thịt hun khói. Nhưng có một đặc sản được khá nhiều người ưa chuộng, đó là món thịt trâu khô.



Nhiều dân tộc làm được món ăn này, quy trình chế biến cơ bản giống nhau, tuy nhiên mỗi vùng, mỗi dân tộc có cách làm khác nhau, thể hiện ở cách dùng gia vị. Dưới đây là một cách làm món thịt trâu khô độc đáo của một số dân tộc thiểu số Tây Bắc.
Vào dịp nhà mổ trâu, thường thường trong những ngày lễ, Tết, người trong nhà không quên dành ra một lượng thịt trâu bắp (hoặc thịt không có gân, thật tươi). Những gia vị đi kèm không thể thiếu trong chế biến thịt trâu khô là sả, gừng, tỏi, ớt khô, hạt mắc khén, nếu muốn ăn ngọt thì thêm đường.
Thịt trâu được lọc hết gân (nếu có), lọc sạch bạc nhạc, sau đó thái miếng dọc thớ rộng khoảng 7- 8 cm, dài khoảng 15 cm, dày khoảng 2-3 cm, dần cho thật mềm. Người ta băm nhỏ sả, gừng, tỏi, ớt khô, hạt mắc khén (loại gia vị chỉ một số vùng mới có) giã nhỏ trộn đều, ướp thịt trâu với hỗn hợp gia vị đó, sao cho vừa đủ. Thời gian ướp khoảng 2- 3 tiếng, sau đó lấy que xiên và sấy trên than củi, để xa cho thịt chín từ từ, chín đều, không được để thịt sát than củi tránh bên ngoài thì bị cháy, bên trong lại không chín. Thịt được sấy như thế cho đến khi vừa chín, không nên sấy khô quá ăn sẽ bị dai và cứng, mất vị ngọt. Khi những miếng thịt trâu khô đã đượm mùi hấp dẫn rất riêng của nó, người ta gỡ ra bọc bằng giấy báo, nếu gia đình nào có điều kiện thì cho vào tủ lạnh để ăn dần. Còn với các hộ gia đình vùng cao vẫn đun bằng bếp củi thì họ sẽ treo lên trên gác bếp hun khói và ăn trong một thời gian dài. Khi ăn, lấy ra thì dùng đồ xôi đồ lại khoảng 20 – 30 phút là ăn được. Vị ngọt của thịt trâu đượm trong sự đậm đà của các gia vị tạo nên sức hấp dẫn cho đặc sản vùng cao Tây Bắc này.
Món ăn này rất phù hợp khi thưởng thức cùng bia và rượu trong những dịp tụ hội bạn bè, người thân, đặc biệt là trong những ngày lễ, Tết.
Nguồn: Báo Lào Cai
[Read More...]


Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2011 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Hack Tutors