Phở khô Gia Lai



Phở khô Gia Lai dùng thịt bò trần và nạc heo băm nhỏ. Phở ăn kèm tương và sa tế rất hợp vị. Người Gia Lai xem món phở khô như một phần không thể thiếu trong nét văn hóa ẩm thực của nơi này.
Phở khô là sự kết hợp của hai nguyên liệu: thịt heo và bò trong cùng một món ăn. Để có nước lèo trong, ngọt, người ta nấu xương heo và bò trong nồi nước lèo và phải giữ lửa liu riu khoảng 5-7 giờ để ninh xương thì nước lèo mới ngọt đậm, và phải canh hớt bọt liên tục.

Thịt của phở khô là thịt bò non hoặc thịt bê. Thịt được thái mỏng, trụng thật nhanh qua nước lèo rồi cho vào chén nước, đây là phần nước dùng của phở. Còn thịt nạc heo băm nhuyễn được cho vào tô trên mặt của bánh phở đã trụng cùng với hành phi. Rau ăn chung với phở khô là xà lách, cần và rau quế.

Tô phở khô được dọn lên, ngoài chén nước dùng, các loại rau, còn một gia vị không thể thiếu là tương xay và sa tế. Tương có vị vừa mặn nhưng vẫn có chút ngòn ngọt của đậu được lên men. Cho tương vào tô, trộn đều với bánh phở, thêm tí sa tế để thêm vị thơm, cay. Vị ngọt của miếng thịt bò non mềm cùng vị ngọt của nước dùng cứ hòa lẫn, càng làm cho món ăn trở nên hoàn thiện. Hương vị của phở khô khác hẳn với phở xào, áp chảo, còn nước dùng của nó khác với món phở Bắc truyền thống. Ở thành phố, được thưởng thức một món đặc sản của vùng Tây Nguyên cũng thú vị.
[Read More...]


Bống kho sông Trà



Thiên nhiên không ưu đãi, nên người miền Trung chịu thương chịu khó để có cái ăn. Qua thời gian, các món ăn trong những bữa cơm đạm bạc đó lại có những món đã trở thành đặc sản mà khiến người dân vùng miền khác phải ngưỡng mộ.
“Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu”
Có bốn đặc sản ở Quảng Ngãi được kết vần thành điệu: “chim mía Xuân Phổ, kẹo gương Thu Xà, cá bống sông Trà, mạch nha Mộ Đức”. So với các đặc sản kia thì xem ra món cá bống sông Trà kho tiêu được nhiều người thích nhất bởi nó không kén người ăn.

Cá bống sông Trà chính hiệu

Ở sông Trà cũng có nhiều cá bống nhưng để có món cá bống kho tiêu hảo hạng, nhất thiết phải là con cá bống cát sống ở giữa sông. Khoảng tháng tư, tháng năm âm lịch, cá bống nhiều nhất. Lúc này cá nhiều trứng, mập nung núc. Bà Tình, chủ quán cơm Cây Gòn trên đường Bà Triệu (Quảng Ngãi) cho biết, trứng cá bống trôi từ đầu nguồn trên núi xuống đến khúc giữa sông thì nở thành cá. Cá bống sống ở giữa đoạn từ cầu xe lửa trên núi chảy thẳng ra biển. Nước sông Trà trong, con cá bống lủi dưới cát trắng nên thịt dai, thơm, mình thon cỡ ngón tay út. Đó là cá bống sông Trà chính hiệu.

Ngay cả bà Tình với hơn 20 năm trong nghề kho cá bống bán cũng không biết con cá bống sông Trà nổi tiếng từ bao giờ. “Ngày xưa, chỉ cần ra sông dùng vợt vớt một lần được cả tô cá. Nhưng từ khi làm cái cầu nước cạn, cá bống ở sông Trà đang ít đi”, bà Tình tiếc nuối.

“Anh đi anh nhớ quê nhà…”

Món canh chua cá bống ngon, nhưng kho tiêu vẫn là ngon nhất. Muốn kho tiêu thật ngon thì con cá phải còn sống. Cho cá vào rổ xát với muối cho sạch vảy. Như món cá kho tiêu khác, cũng ướp cá với chút đường, nước mắm, muối, tiêu, bột ngọt… cho thấm trước khi kho. Nghe đơn giản nhưng phải biết cách kho nếu không cá nát hết. Nhưng để cho ra món cá kho đặc sản đúng hương vị xứ Quảng thì phải dùng các đặc sản xứ Quảng như nước mắm Kỳ Tân, đường trắng An Thới, tỏi Lý Sơn, tiêu rừng vừa thơm vừa cay. Có lẽ vì vậy mà tại Sài Gòn chỉ bán món cá bống sông Trà đã được kho sẵn.

Con cá bống được kho quéo lại, thịt săn chắc, không cứng, không mềm. Và kho cá ngon nhất vẫn là kho bằng cái trách đất, sanh đất, niêu đất… bất cứ thứ gì bằng đất nung để các hương vị được chất thổ dẫn truyền, quyện vào nhau tạo ra một hương thơm quyến rũ.

Thêm vài trái ớt hiểm để nồi cá thêm bắt mắt, kho cá nhà sau hương thơm đã lan ra ngoài ngõ ngào ngạt. Món cá bống kho tiêu ăn với cơm trắng, thêm dĩa rau muống luộc chấm với nước cá kho – đơn giản vậy mà hết… ý. Hoặc chỉ cá bống kho tiêu ăn với cháo trắng, toát mồ hôi cũng đã rồi. Ăn phải con cá bống có đùm trứng vàng thì lại thêm vị béo bùi thật tuyệt.

Bà Tình cho biết, cá bống kho tiêu giữ được cả tháng, kho xong dưới mười ngày ăn rất ngon. Ban đầu quán Cây Gòn kho cá bống bán kèm cơm, thực khách khen ngon mua về nhiều dần dần quán cơm phát triển thành cơ sở như bây giờ. Mỗi lần quán kho 30 sanh, một sanh hơn một ký cá. Kho năm ba bữa, đợi cá khô rồi cho vào hũ bán đi khắp nơi, cả xuất sang nước ngoài.

Có vậy nên người Quảng Ngãi cải biên: “Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu”.
BÀI VÀ ẢNH: MINH CÚC
Theo Sgtt
[Read More...]


Mật bồ đào xứ hạn



Ninh Thuận là một xứ sở khí hậu khắc nghiệt. Có phải vì vậy mà trời thương nên bù đắp cho nơi này nhiều thứ.
Du khách sau khi rời khỏi Ninh Thuận thường nhớ hình ảnh tháp Chàm Pôklong Garai, nhớ biển Cà Ná với những đồi cát, nhớ cơm gà Phan Rang, và không quên một món đặc sản là tỏi… Những người Phan Rang xa quê mà tôi biết lại hay nhắc về những cánh đồng muối bạt ngàn nắng và gió. Ngồi xe trên đường Một ngang qua Ninh Thuận, người viết cứ dõi theo nốt tín hiệu trên Google map để kiếm chiếc cầu Đạo Long một thời đã xa, đâu ngôi trường trung học Duy Tân và dấu vết của vườn nho ngày cũ.
Ninh Thuận được xem là vùng đất khô hạn vào bậc nhất Việt Nam. Mỗi năm lượng mưa trung bình dưới 750 – 850mm. Chính thời tiết khô hanh của vùng đất này lại là điều kiện rất tốt cho những cánh đồng nho. Nho Phan Rang có phải là một thứ nho rất lạ? Quả nho thì chín mọng và ngọt lịm, nhưng mật nho uống không khéo lại say.
Những năm gần đây, nghề trồng nho ở Ninh Thuận khôi phục và phát triển mạnh. Ngoài nho tươi, mật nho, mứt nho, dọc con đường thiên lý ngang địa phận Ninh Thuận người ta thấy cơ man nào các loại sản phẩm khác từ trái nho: bột nho, rượu vang nho… Vậy nhưng rượu mật nho Phan Rang không phải chỉ để uống như rượu nho thông thường. Rượu nho – còn có cái tên đi vào thi ca là bồ đào – Phan Rang uống để nhớ. Cái hương biển mặn mòi, hương nắng rát bỏng, hương gió khô rang trong vị của những ly mật nho mà chàng thi sĩ vô danh nào đó đã từng trải: hương Phan Rang gió biển thành men rượu/ hương con gái bên thềm hoa cũ/chợt bay về nồng ấm chiêm bao…
NGUYỄN TRẦN - ẢNH: THANH HẢO
Theo Sgtt
[Read More...]


Dế rang mùa lụt





Thời trân hay mùa nào thức nấy là một trong những đặc điểm của văn hóa ẩm thực Việt Nam. Đồng thời trong từng mùa ấy mới có từng món ăn đặc sản khiến cho người ta rạo rực, thích thú, tìm mọi cách thỏa mãn cái “tứ khoái” đầu tiên của trần tục và mong mỏi đến thời gian năm sau, cũng lại tiếp tục thuởng thức món ngon nhớ đời. Những người dân sinh sống ở lưu vực sông Vu Gia quê tôi hẳn trong đời đã đôi ba lần có dịp mãn khẩu món dế rang từ thiên nhiên ban tặng trong mùa lụt khi không còn món mặn nào đưa cơm. Tôi thầm nhủ, nhiều nơi khác chắc dễ gì có được!

Trong mùa lụt đầu, độ trung tuần tháng 8 âm lịch trở về sau, dòng nước đục ngầu vàng màu phù sa cuồn cuộn dâng cao lên đến hơn 10 m bắt đầu tràn bờ và chảy lấp đầy những vùng trũng thấp của cánh đồng đất biền mênh mông như một quy luật giản đơn của tạo hóa mà Lão Tử đã khái quát thành triết lý nhân sinh trong Đạo đức kinh. Người dân địa phương gọi đó là “nước băng bàu”. Nước chảy lênh láng trên mặt đất, len lỏi qua từng khóm cây bụi cỏ, chui tọt xuống các hang cùng hốc. Chỉ mươi phút sau, trên mặt nước bạc sóng sánh ánh vàng ấy, biết bao lũ dế đeo bám đầy trên các ngọn ớt cuối mùa đã trụi lá hay những cây bắp đang đến mùa thu hoạch để mong tìm sự sống sót. Đấy cũng là thời điểm mà mọi người bắt đầu đổ ra lội nước để bắt dế. Người thì đeo bầu vịt, kẻ thì mang xô, xách giỏ; thậm chí ai đó đang đi “thăm lụt” về cũng vội ghé vào bứt vài cộng cỏ trâu, buộc gút một đầu làm dụng cụ “đựng” dế. Người người hối hả, vì ai cũng biết rằng(,) phải khẩn trương để kịp quay về nhà khi nước lụt còn ngang người và đám dế kia chưa nhảy bám lên cao. Việc bắt dế như vậy vừa “cải thiện” bữa ăn mùa mưa lụt vừa là “thuốc sinh học” hiệu quả tiêu diệt loài dế phá hoại cây trồng ở vụ đông xuân tiếp theo.

Dế mang về đem vặt râu, cánh, phần cẳng chân răng cưa rồi nặn ruột cho sạch chất bẩn. Xong đem rửa sạch và để cho ráo nước. Từng con dế cơm nhìn càng béo tròn hơn khi vặt bỏ những phần phụ ấy. Váng mỡ từ trong ruột dế hòa vào thau nước rửa tạo thành từng mảng màu tươi sắc và bắt mắt. Chỉ mới nhìn vậy thôi mà trong đầu đã hình dung ra vị béo trơn tuột nơi đầu lưỡi, nước bọt đã tiết ra thấm ướt hai mép tự bao giờ. Không tài nào cưỡng nỗi, tụi nhỏ chúng tôi, mỗi đứa vội vàng bốc lấy một con, xiên vào que tre và đưa vào bếp củi đang đun để nướng. Con dế nhanh chóng teo quắt lại kèm theo tiếng “nổ” li ti mà lắng lòng lắm mới nghe được. Màu nâu vàng nguyên thủy từ từ chuyển sang màu nâu đậm. Một mùi thơm đặc trưng của côn trùng nướng nơi hỏa cung dần theo làn khói lan tỏa, chạm vào mũi làm ta sực tỉnh. Thị giác và thính giác nhường chỗ cho khứu giác ngất ngây cảm nhận. Tay vội vàng rút que xiên ra khỏi bếp lửa như sợ Táo quân tranh mất. Tất cả đều chạy tót lên trước hiên nhà, lấy đôi dép làm ghế ngồi, thả hai chân xuống chao chao trong biển nước bạc và bắt đầu chậm rãi nhâm nhi con dế nướng theo kiểu bò tùng xẻo. Đầu tiên từ cái đầu vuông vuông như một cỗ máy điện tử, rồi đến hai bắp đùi tròn chắc có vẻ “đá được xe” và cuối cùng là cái mình mềm nuột đến mát mịn chân răng. Nào mùi thơm, nào vị ngọt hòa lẫn cùng cái béo hơi hơi mà nguyên chất trọn vẹn với những thanh âm giòn tan trong vòm miệng làm cho ta không dám nuốt vội, chỉ từ từ thưởng thức và cảm nhận về sự kì diệu của phương pháp làm chín thức ăn đầu tiên trong lịch sử loài người.

Khi chưa dứt dòng suy nghĩ mông lung xa vời, tôi đã nghe những tiếng xèo xèo ở bếp nhà dưới, biết là mẹ đang rang dế để chuẩn bị thức ăn mặn cho bữa cơm trong những ngày mưa lụt. Ở quê tôi, người dân không gọi là rang dế mà gọi là xào dế. Tôi chưa biết từ nào dùng chính xác hơn, nhưng sâu thẳm trong con tim về hồn quê vẫn in đậm cái tên “dế xào”. Nói cho có vẻ khoa học, hay mang màu sắc văn hóa ẩm thực - kỹ thuật chế biến dế rang thật đơn giản, không một chút cầu kì. Hạn chế sử dụng gia vị để giữ chân nguyên hương vị của dế nhờ ăn đọt non, uống sương trời, ngủ hang đất. Cho dầu mỡ vào chảo đun nóng, bỏ chút hành hương phi thơm, sau đó cho dế vào. Người nội trợ không nên dùng đũa bếp đảo đều dế mà cầm cán chảo vung - lắc - xóc lên như người Bắc chế biến món cơm rang cho dế thấm đều dầu mỡ. Tiếp theo rưới một ít nước mắm và thêm chút ớt bột lên mình dế rồi lại đảo một lần nữa theo hình thức trên. Xong đậy nắp vung trong khoảng một phút để lấy hơi làm dế chín đều rồi bỏ nắp vung ra. Đun lửa vừa thêm vài phút là có một món mặn tuyệt vời.

Nhìn những con dế rang vẫn giữ nguyên hình dáng ban sơ được sắp đầy trên đĩa, tôi không tài nào ngăn được “cái sự thèm”, dòng nước bọt đang tự nhiên tiết ra. Gắp một con dế rang đặt lên miệng bát cơm trắng đang bốc khói, hương thơm của nó lẫn vào làn hơi đưa thẳng đến mũi, cho ta tận hưởng một vị quê mùa thật dân dã mà mấy ai tả được. Ngậm nguyên một con dế rang trong khoang miệng, ban đầu ta cảm nhận trơn mướt bờ môi, vị đậm đà của nước mắm thấm tận chân răng, vị cay cay của ớt rần rần nơi đầu lưỡi. Hai hàm răng khép chặt, một cơ lực đè ép lên mình dế, cảm giác có một âm thanh giòn tan của đầu dế rồi đến dai dai của bắp chân và mềm mềm của phần thân. Không có một món rang nào có thể cho ta đầy đủ các cảm giác đến như vậy! Chưa kịp thưởng thức cái vẻ giòn, dai, mềm của thịt dế thì vị beo béo nhẹ nhàng và cái ngòn ngọt thanh thanh từ trong thân dế đã tan ra thấm khắp trong khoang miệng. Tôi vội vàng và một đũa cơm rồi nhai đều để trộn lẫn thức ăn mang tính tổng hợp của đặc trưng văn hóa ẩm thực Việt, đưa hỗn hợp thức ăn xuống dạ dày thật khoan khoái, cho thỏa cái “vất vả” - mà bọn trẻ chúng tôi rất ưa thích - là ngâm mình trong nước lạnh và bị kiến đốt khi bắt dế về làm món rang. Trong tiết mưa lụt, trời se se lạnh, tốn nhiều năng lượng cho việc dẵm nước chơi lụt, chỉ một món dế rang thôi mà đã “ngã” biết bao bát cơm. Song, tôi vẫn thích nhất dế rang với nước mắm cái được muối từ tháng 3 tháng 4 âm lịch cho thêm phần đậm đà và đượm bản sắc Quảng Nam!

Đã hơn 15 năm, tôi chưa có dịp chơi lụt nơi quê nhà và đặc biệt chưa được thưởng thức lại món dế rang đã gắn với tôi suốt thời niên thiếu. Nơi đô thị vào lúc tiết trời mưa lụt, tôi lại nhớ về món dế rang ngày xưa mà lòng bâng khâng khôn xiết. Bây giờ mới hiểu được lý do tại sao một vị quan Trung Quốc treo ấn từ quan để trở về quê nhà chỉ vì nhớ day dứt một hương vị món ăn dân dã.

Nguyễn Hoàng Thân
Theo Nguyễn Xuân Diện blog
[Read More...]


Chắt chắt – Đặc sản sông Gianh



Khúc sông Gianh chạy qua xã Phù Hoá, Quảng Trạch, Quảng Bình dài chừng bốn cây số. Đây là vùng giao thoa giữa nước lợ và nước ngọt. Vùng giao thoa này sinh ra một loài hến bé nhỏ, dân gian gọi là chắt chắt.
Hằng năm, vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch, sau một cơn mưa giông, nước ngọt đầu nguồn sông đổ về đây, gặp làn nước lợ từ dưới cửa biển dâng lên. Khí trời se lạnh, không gian khoáng đạt, hai làn nước trai tráng và nữ nhi ấy chảy oà vào nhau, tan trong nhau, nồng nhiệt trong nhau như một cuộc hoan lạc vĩ đại của sông nước, để rồi sinh ra hàng triệu hàng triệu triệu con chắt chắt nhỏ li ti.
Chuyện ấy kể như huyền thoại nhưng là cách để người dân Phù Hoá giải thích về sự ra đời của nghề xúc chắt chắt làng mình.

Người dân Phù Hoá còn nghèo lắm và nghề cào chắt chắt như một “cứu cánh”. Mùa chắt chắt nhiều nhất là từ tháng Ba đến tháng Tám, nay người Phù Hoá tận dụng cào đến cả tháng 10, 11 âm lịch. Sang mùa giá rét, chắt chắt càng ít đi, hơn nữa mùa này có cào được cũng ít người ăn. Làm nghề này, người ta chỉ sắm chiếc cào, đến mùa trầm mình xuống bờ cát ven sông xúc chắt chắt lẫn trong cát, rồi sàng cát xuống sông, lọc chắt chắt bỏ vào bao mang theo.

Người cào giỏi, ngày kiếm được vài chục lon, đem bán được vài chục ngàn đồng, vậy mà tất cả chi tiêu của gia đình đều từ đó mà ra. Bởi vậy, ở Phù Hoá có gia đình đi cào đủ cả cha mẹ, con cái để kiếm được nhiều chắt chắt, mong đắp đổi hàng ngày. Nhưng cũng thật lạ! Làng Phù Hoá từ xưa đến nay lại được xem là đất học của tỉnh Quảng Bình.

Làng là nơi sinh ra danh nhân văn hoá Nguyễn Hàm Ninh, thầy dạy học của Vua Tự Đức. Làng Phù Hoá bây giờ tính ra có hàng trăm người có học vị tiến sĩ, cử nhân… và hàng chục em vào đại học mỗi năm. Người già ở Phù Hoá thường cắt nghĩa: “Làm nghề này mới biết chịu thương chịu khó để nên người, biết đem cho người cái ngọt ngào còn nhận về mình cay đắng nhọc nhằn. Biết ăn, biết ở, trời cho lại”.
Món ăn nổi tiếng chắt chắt với bánh tráng
Muốn ăn con chắt chắt cũng kỳ công lắm. Chắt chắt cào được đem xa (rửa) thật kỹ vài ba nước, để cho ráo rồi đun xoong nước thật sôi mới thả vào, bỏ ít muối hạt, dùng bó đũa đánh nhiều lần để gạt nhân sang xoong khác. Bị nước nóng, vỏ chắt chắt nở ra, mặt rời vỏ, nổi lên theo nước sang xoong khác. Cứ gạn qua gạn về cho hết mặt thì thôi. Nước chắt chắt sau khi nấu xong có thể làm canh chan ăn ngay với cơm, thêm chút muối ớt, gừng, cảm giác ngọt lịm.
Chắt chắt còn được xào với mít non lá lốt. Xưa nay, món này dành cho người nghèo. Mít non gọt vỏ, băm nhỏ, thêm một ít lá lốt thái mịn trộn đều xào với chắt chắt. Món này bây giờ được bán ở quán nhậu cũng “hút” khách đáo để vì nó được được dân nhậu phong là “đệ nhất dinh dưỡng” và “đệ nhất sạch”…

Người thích ăn kiểu thông thường thì có thêm ít rau muống hay rau tập tàng thái nhỏ đun vừa chín tới, chan với cơm hoặc bắp rang để ăn. Còn nhân chắt chắt nếu ăn bình thường thì đổ lẫn canh, nếu muốn làm món nhậu thì vớt ra cho vào chảo, bỏ ít dầu, gia vị xào lên, đem xúc bánh tráng, cam đoan ăn mệt nghỉ, còn ăn được chừng nào thì còn thèm chừng ấy. Món này hiện được các quán nhậu bình dân khai thác làm đồ nhậu vừa rẻ, vừa hút thực khách.

Lấy bánh đa xúc vào dĩa chắt chắt, dùng đũa gắp một ngọn rau thơm để lên trên và đưa vào miệng. Từ từ nhai để tận hưởng cái giòn tan của bánh đa, cái hương thơm đượm vị phù sa của vừng, cái ngầy ngậy của chắt chắt, trong một chút cay của ớt, một chút chua của cà, một chút nồng của tiêu, một chút thơm của hành… Và cảm giác như vũ trụ đã hội đủ trong vòm họng…

Phan Phương
(Dân Việt)
[Read More...]


Đặc sản Đẻn biển



Quảng Bình có thành phố Đồng Hới bên bờ sông Nhật Lệ thơ mộng, hiền hòa với nhiều bãi tắm dọc bờ biển mang nét hoang sơ, ẩn hiện dưới những rặng phi lao xanh êm đềm.

Các nhà hàng dọc con đường nằm sát biển, thoáng, mát, đều phục vụ các loại hải sản của Quảng Bình nhưng ấn tượng nhất vẫn là đặc sản Đẻn biển, ăn một lần sẽ nhớ mãi suốt cuộc đời.

Đẻn có hình dài như con rắn, trên mình có vằn, da rất nhám. Tiết đẻn là “món” đầu tiên, uống vào thấy trong lòng “xao xuyến”. Cắt một chút ở đuôi đẻn để lấy “tiết” cho chảy vào rượu. Hoặc có thể ngâm cả con đẻn vào bình rượu (rượu ngon), ngâm ba đến năm ngày là uống được. Rượu tiết đẻn uống vào có vị hơi chát, ấm, là một loại thuốc chữa được bệnh đau lưng.

Món Ram đẻn mới ngon. Đẻn làm sạch, lấy hết ruột và huyết đen trên sống lưng, bằm cả xương thật nhuyễn, cho các gia vị vào trộn đều, ướp một lúc, lấy ra cho vào bánh đa cuốn thành từng chiếc ram nhỏ, sau đó đưa lên chảo rán đều, mùi thơm không nhịn được.

Đẻn là đặc sản của biển Quảng Bình. Rượu đẻn, ram đẻn là “khoái khẩu” của người dân Quảng Bình. Món ngon đẻn không thể diễn tả hết bằng lời nhưng có thể nói hấp dẫn và không thể quên. Nếu bạn đã một lần thưởng thức sẽ nhớ mãi vị đặc biệt của rượu “tiết” đẻn, hượng vị thơm ngon quyến rũ của ram đẻn. Ngồi bên bờ biển thư giãn giữa trưa hè hay đêm khuya với bạn hiền, chỉ cần mấy ly rượu đẻn, một đĩa ram đẻn còn nóng hổi với những lời tâm tình sâu lắng, đời sẽ vui và thú vị hơn.

Quảng Bình có nhiều điểm du lịch nổi tiếng, đặc biệt là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng – Di sản thiên nhiên thế giới. Mời bạn đến thăm Quảng Bình và nhớ ghé về bờ biển Nhật Lệ thưởng thức đặc sản đẻn biển.

Theo Du lịch Quảng Bình
[Read More...]


Kẹo Cu đơ và nước chè xanh, “đặc sản” dân dã của người Hà Tĩnh



Bất kỳ một vùng miền nào cũng có những đặc sản quê hương. Bạn sẽ được mời bánh Cáy khi đến Thái Bình, bánh đậu xanh Hải Dương, với miền đất gió lào cát trắng mà bao người con xa quê “đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh” thì kẹo Cu đơ chính là “đặc sản” để nhớ để thương.
Kẹo Cu đơ giòn thơm mật mía
Về thăm quê hương Hà Tĩnh, thứ mà khách được người dân đôn hậu nơi đây mời đầu tiên bao giờ cũng là bát nước chè xanh và đôi ba cái kẹo cu đơ. Đó cũng chính là thói quen bao đời, là nét văn hóa ăn sâu vào máu thịt không bao giờ thay đổi của người dân quanh năm gió Lào. Cắn một miếng cu đơ, uống hớp chè xanh mà vị ngọt và chát hòa tan rất thú vị.
Kẹo cu đơ có hình tròn như mặt trăng đêm rằm, nhìn bề ngoài thô ráp và sần sùi nhưng lại rất thơm, có vị đậm đà của mật mía, thơm cay cay của gừng tươi, cài giòn tan của lạc và bánh tráng vừng. Miếng bánh vừa dai, vừa ngọt, vừa thơm lại vừa cay…ăn rất “lạ miệng”.
Nguồn gốc cái tên “cu đơ” cũng xuất phát lâu lắm rồi, người ta kể rằng Cu đơ xuất phát đầu tiên ở vùng Hương Sơn- Hà Tĩnh từ thời Pháp thuộc. Kẹo do ông Cu Hai (cu là cách gọi người con trai đầu lòng- một cách gọi tên của người Hà Tĩnh) sáng chế ra để bán cho bà con trong làng. Nhưng khí lính Pháp đến quán ông ăn được thưởng thức quà lạ này nên đã đặt tên cho dễ nhớ, bởi thế kẹo Cu Hai thành Cu Đơ (trong tiếng Pháp Duex- Đơ là hai). Ban đầu ông Cu Hai nấu kẹo bằng mật mía, lạc và gừng nhưng nấu xong đổ ra lá chuối, mỗi lần ăn phải dùng tay bóc ra, mãi về sau mới sáng chế ra thay lá chuối bằng bánh tráng vừng khô.
Kẹo cu đơ và nước chè xanh là đặc sản dân dã của người Hà Tĩnh
Kẹo cu đơ ngày nay, cầu kỳ và bắt mắt hơn nhiều. Lạc được chọn làm nhân phải là lạc đồi, giòn, đều hạt, vỏ ngoài mỏng và bóng. Mật mía phải là thứ mật sánh, thơm và đặc như mật ong. Bánh tráng không quá dày cũng không quá mỏng, phải có vừng và gừng ở đều vỏ bánh.

Cầm miếng bánh cu đơ trên tay vừa nặng, vừa chắc, cắn miếng bánh phải dẻo quẹo, nồng nồng cay cay của gừng và thơm bùi của lạc, đấy mới là chiếc bánh chuẩn và ngon. Ăn cu đơ và ngâm nga bát nước chè xanh cùng đôi câu chuyện thấy cuộc sống và con người xứ Nghệ thật đôn hậu, một nét văn hóa độc đáo.

Đây cũng là “đặc sản” đặc trưng nhất của người Hà Tĩnh bởi nó chất chứa hương vị thiên nhiên và hơi thở cuộc sống. Có lẽ vì thế, khắp một dải miền Trung, mà du khách đi qua vẫn nhớ về kẹo Cu đơ, nước chè xanh của người Hà Tĩnh.

Theo Lao Động
[Read More...]


Mắm bò hóc đặc sản của đồng bào dân tộc Khmer



Mắm bò hóc là đặc sản của đồng bào dân tộc Khmer, từ loại mắm này người dân đã chế biến thành nhiều món ngon như: bún nước lèo, canh sim lo, mắm sống trộn chanh ớt,… Nếu ai có một lần đến tỉnh Trà Vinh và thưởng thức những món dân dã này thì khó có thể quên được hương vị độc đáo của nó.
Bún nước lèo với vị từ mắm
Mắm bò hóc (tên gọi từ tiếng Khmer là Brahok) là một loại mắm làm từ nguyên liệu chủ yếu là cá đồng có rất nhiều ở vùng ĐBSCL. Cá dùng làm mắm bò hóc có nhiều loại như cá sặc, cá chốt, cá hủn hỉn,…

Ban đầu phơi cá cho ươn khoảng 2 ngày, sau đó ướp cá cùng với các gia vị như: muối, cơm nguội, rượu,… theo một tỉ lệ nhất định. Để cho cá thấm gia vị đã ướp rồi cho vào hủ, khạp. Sau thời gian ủ khoảng 2 tháng thì cho thính vào tiếp tục trộn (thính của người Khmer thường dùng là cơm nguội, có vùng bắt chước người Việt dùng thính bằng gạo rang). Đem phơi hũ mắm khoảng 2- 3 tháng nữa là có thể sử dụng được. Mắm bò hóc được người Khmer xem như đặc sản dùng để đãi khách quý khi đến nhà hay đến thăm phum sóc.
Món dễ làm nhất từ mắm bò hóc là mắm sống trộn với chanh, ớt. Đem mắm từ trong hũ ra thơm lừng, trộn mắm với chanh, ớt, tỏi thêm chút đường là có thể ăn được. Món này phải ăn kèm với các loại rau, quả như: khế, chuối chát, rau thơm, lá xoài non, đọt cóc mà đặc biệt là phải ăn với cơm nguội mới cảm nhận hết vị ngon và mùi vị khó quên của mắm bò hóc. Từ mắm bò hóc, người Khmer đã tạo ra món bún nước lèo đã trở thành đặc sản miền Tây nói chung và là đặc sản của tỉnh Trà Vinh nói riêng.
Món mắm bò hóc là món ăn đặc trưng của đồng bào Khmer Nam Bộ, hầu như mỗi gia đình Khmer nào cũng có sẵn một vài hũ mắm dùng cho gia đình làm thức ăn mà đặc biệt là dùng đãi khách.
Nguồn: Báo Văn Hóa
[Read More...]


Đặc sản mắm cá ruộng Chiêm Hóa, Tuyên Quang



Bên cạnh những đặc sản nổi tiếng như rượu nếp cái hoa vàng, bánh gai, xôi bảy màu, vùng đất Tuyên Quang còn nổi tiếng với món mắm cá ruộng. Đây vừa là món ăn truyền thống, cũng vừa là một vị thuốc độc đáo của đồng bào dân tộc Tày từ bao đời nay.
Bắt cá ruộng
Để làm ra một hũ mắm cá đòi hỏi khá công phu, phải mất 3 tháng nuôi cá ở ruộng và 10 tháng ủ men làm mắm, nhưng bù lại hương thơm tuyệt hảo của nó thì vị khách khó tính nhất cũng khó có thể cưỡng lại.
Theo bí quyết mà các cụ già truyền lại thì để làm món ăn này phải chọn đúng loại cá chép nuôi ở ruộng, to chừng khoảng hai ngón tay, mổ moi ruột sạch sẽ, để ráo nước. Khâu mổ cá phải thật khéo, không được làm vỡ mật cá, nếu không mắm sẽ có vị đắng. Tiếp đó đem cá đã làm sạch xát muối; giềng, hành thái lát mỏng trộn đều rồi đổ vào hũ, mùa hè thì ủ từ 3-5 ngày, mùa đông phải khoảng 1 tuần. Trong thời gian ủ cá thì đồ xôi nếp, rắc men lên rồi đậy kín. Cuối cùng là hái lá cơm đỏ, lá trầu không về thái chỉ, trộn đều với cá và xôi nếp đã lên men. Sau đó đem đổ vào hũ, bịt thật kín. 10 tháng sau mở hũ mắm ra là dùng được.
Món mắm ngon phải có màu đỏ tía, dậy mùi thơm nức, không có mùi tanh, hôi. Trải qua 10 tháng ủ trong hỗn hợp, cá phải chín cả thịt lẫn xương mới đạt yêu cầu.
Mắm cá ruộng có rất nhiều cách thưởng thức. Ngoài dùng để chấm các loại thịt luộc, rau luộc, rau sống, bà con còn dùng để xào với trám om đã bỏ hột, sẽ có món ăn mang hương vị vô cùng độc đáo. Đặc biệt, mắm cá ruộng còn là vị thuốc giải rượu, giải độc rất tốt. Thường sau khi ăn gần hết hũ mắm, bà con để lại một ít để phòng trong nhà có người bị say rượu, trúng gió hay bị ngộ độc nhẹ. Chỉ cần múc ngay một ít mắm cho người đó uống, sẽ giảm nhanh các triệu chứng khó chịu.
Mắm cá ruộng không chỉ là món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc Tày Chiêm Hóa mà giờ đã trở thành thương hiệu được du khách trăm miền biết đến. Bởi hương vị đặc trưng của thứ đặc sản này khiến cho ai đã từng một lần thưởng thức sẽ không khỏi ngạc nhiên, thích thú để rồi ngây ngất, khó quên.
Nguồn: Báo Tuyên Quang
[Read More...]


Thịt trâu khô – đặc sản vùng Tây Bắc



Các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc có rất nhiều món ăn độc đáo, thể hiện bản sắc và đặc điểm sinh hoạt vùng, miền. Trong tất cả đặc sản của các dân tộc vùng cao, đặc trưng nhất vẫn là thịt hun khói. Nhưng có một đặc sản được khá nhiều người ưa chuộng, đó là món thịt trâu khô.



Nhiều dân tộc làm được món ăn này, quy trình chế biến cơ bản giống nhau, tuy nhiên mỗi vùng, mỗi dân tộc có cách làm khác nhau, thể hiện ở cách dùng gia vị. Dưới đây là một cách làm món thịt trâu khô độc đáo của một số dân tộc thiểu số Tây Bắc.
Vào dịp nhà mổ trâu, thường thường trong những ngày lễ, Tết, người trong nhà không quên dành ra một lượng thịt trâu bắp (hoặc thịt không có gân, thật tươi). Những gia vị đi kèm không thể thiếu trong chế biến thịt trâu khô là sả, gừng, tỏi, ớt khô, hạt mắc khén, nếu muốn ăn ngọt thì thêm đường.
Thịt trâu được lọc hết gân (nếu có), lọc sạch bạc nhạc, sau đó thái miếng dọc thớ rộng khoảng 7- 8 cm, dài khoảng 15 cm, dày khoảng 2-3 cm, dần cho thật mềm. Người ta băm nhỏ sả, gừng, tỏi, ớt khô, hạt mắc khén (loại gia vị chỉ một số vùng mới có) giã nhỏ trộn đều, ướp thịt trâu với hỗn hợp gia vị đó, sao cho vừa đủ. Thời gian ướp khoảng 2- 3 tiếng, sau đó lấy que xiên và sấy trên than củi, để xa cho thịt chín từ từ, chín đều, không được để thịt sát than củi tránh bên ngoài thì bị cháy, bên trong lại không chín. Thịt được sấy như thế cho đến khi vừa chín, không nên sấy khô quá ăn sẽ bị dai và cứng, mất vị ngọt. Khi những miếng thịt trâu khô đã đượm mùi hấp dẫn rất riêng của nó, người ta gỡ ra bọc bằng giấy báo, nếu gia đình nào có điều kiện thì cho vào tủ lạnh để ăn dần. Còn với các hộ gia đình vùng cao vẫn đun bằng bếp củi thì họ sẽ treo lên trên gác bếp hun khói và ăn trong một thời gian dài. Khi ăn, lấy ra thì dùng đồ xôi đồ lại khoảng 20 – 30 phút là ăn được. Vị ngọt của thịt trâu đượm trong sự đậm đà của các gia vị tạo nên sức hấp dẫn cho đặc sản vùng cao Tây Bắc này.
Món ăn này rất phù hợp khi thưởng thức cùng bia và rượu trong những dịp tụ hội bạn bè, người thân, đặc biệt là trong những ngày lễ, Tết.
Nguồn: Báo Lào Cai
[Read More...]


Rượu cần đặc sản Đắc Nông



Trường Sơn cao ngất rừng xanh
Quây quần hũ rượu, Thượng – Kinh chung cần
Trong bất cứ lễ, tết nào, đồng bào Tây Nguyên cũng đều có nghi thức uống rượu cần. Rượu, theo họ tin tưởng, là do Trời (Yang) sai thần linh xuống trần dạy cho con người cách làm rượu đủ loại: từ gạo, mì, bắp cho đến bo bo, kê…để tế lễ các đấng tối cao trong năm.
Rượu Ba Na được các dân tộc ở Tây Nguyên khen là ngon nhất, sau đó mới là rượu của người Ê-đê và Xơ-đăng.
Rượu cần Tây Nguyên uống bằng cần. Rượu cần có nhiều thứ, ngon hay dở là do ở người làm cũng như các hợp chất có được đầy đủ hay không. Hiện nay, rượu cần không chỉ dành riêng cho các đồng bào Tây Nguyên, mà họ thường chế tạo, cất thành từng ghè (ghè hay ché là loại hũ cao để đựng rượu) chở đi bán tại các làng miền xuôi. Cho nên, người Kinh chúng ta nay cũng “khoái” uống rượu cần trong các tiệc tùng linh đình hay lễ, tết.
Uống rượu cần thể hiện sự đoàn kết, thương yêu không có chuyện chén chú, chén anh, chén ông, chén bác… Mọi người cùng uống với nhau chung cần, trẻ, già, trai, gái nhâm nhi thịt trâu nướng mà không sợ mất vệ sinh.
Làm rượu cần rất đơn giản. Chỉ cần bỏ men vào cơm ủ trong ché (ghè) độ bốn năm hôm là thành rượu. Lúc nào uống thì đổ thêm nước lã vào chứ không cất như rượu đế. Rượu để lâu ngày càng ngon. Có người đem chôn rượu ở dưới đất hàng năm cho rượu hả hơi mới đem lên uống.
Rượu cần có nhiều loại. Rượu thóc là lúa mới xay, rửa cho sạch, ngâm nước rồi trộn men để bỏ vào ché. Lấy lá chuối bịt chặt miệng ché độ năm, sáu hôm sau là dùng được. Rượu cơm là rượu làm bằng gạo nấu thành cơm ủ với men; hoặc là trộn đều bỏ vào ché; hay bỏ một lớp cơm, một lớp men cũng được. Cơm rượu chỉ độ vài ba hôm là nở tràn ché. Còn rượu kê, bo bo, bắp, mì, v.v… thì cũng làm theo cách trên.
Đồng bào Ba Na gọi rễ cây men là Hiam. Rễ này cùng với gừng, ớt được giã nhỏ, trộn với gạo rồi viên thành viên nhỏ. Hoặc lấy rễ dây men – loại dây có gai bò trên mặt đất giống như dây trầu – đem phơi khô, giã nhỏ với củ riềng hay củ gừng rồi cũng viên thành từng viên lớn như quả trứng gà so. Mỗi ché chỉ bỏ độ một viên men là đủ.
Đến lúc uống mới đem cần cắm vào ché. Cần uống thường làm bằng cây trúc hay cây triêng. Cuốn cây triêng thường dài cả mét, chặt đem về phơi khô, rút lõi bỏ đi, dùng làm cần rượu thì tuyệt!
Rượu cần tuy nhẹ, dễ uống, nhưng uống nhiều, khách dễ bị đau đầu và có thể ngã lăn quay lắm…
[Read More...]


Đặc sản Cá Lăng nướng than




Trong các món đặc sản của núi rừng, nhiều du khách rất thích món cá lăng nướng than hồng. Người dân ở đây thường bọc cá lăng trong một loại lá rừng rồi mới đem nướng. Cá lăng được đánh bắt từ dòng sông Sêrêpôk, thịt cá không chỉ ngọt mà còn dai và thơm phức. Thêm một ống cơm lam, một đĩa gà nướng là bữa ăn của bạn đã mang đậm “chất” đại ngàn.
Cá lăng nướng
Thơm ngon hương vị cá lăng
Cá lăng (tên khoa học là Hemibagrus elongatus) là tên gọi một loài cá trong họ Cá lăng, bộ Cá da trơn. Cá lăng là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất, trong tự nhiên đã bắt được những con từ 40 – 50 kg. Đây là một loài cá không có xương dăm, thịt rất ngon nên rất được ưa chuộng. Ở Hà Nội, từ xa xưa đã nổi tiếng món chả cá Lã Vọng… Ở Đắk Nông, cá lăng có nhiều trên sông Đồng Nai, sông Sêrêpốk… và hiện có mặt ở hầu hết các Nhà hàng lớn tại thị xã Gia Nghĩa, huyện Chư Jút, Krông Nô, Đắk Glong…

Chả cá lăng chín vàng nổi màu men cánh gián chỉ nhìn thôi đã thấy hấp dẫn
Dưới đây xin giới thiệu một số món chế biến từ cá lăng mà thực khách hai miền Nam – Bắc ưa dùng, đó là chả cá lăng, cá lăng om chuối và cá lăng nướng.
Để có miếng chả cá thơm ngon, nhà hàng phải kén những con cá lăng đen khỏe, vừa chắc thịt, ít xương lại ngọt. Cá được lọc bỏ sạch da và xương, thái miếng khuôn hoặc hình chữ nhật rồi tẩm ướp gia vị gồm nước cốt của riềng, nghệ quyện với mẻ, mắm tôm, nước mắm trong khoảng 1 giờ. Khi gia vị đã ngấm sâu vào từng thớ thịt của cá, xếp từng miếng cá vào vỉ, sau đó phết một lớp dầu và nướng trên than hoa. Người đầu bếp phải nhanh tay lật giở cho đến khi nghe thấy tiếng xèo xèo của mỡ, cá chín vàng nổi màu men cánh gián, dậy mùi thơm thơm của thịt, của mẻ, ấy là lúc có thể lấy ra thưởng thức. Mắm tôm được lựa chọn rất kỹ, phải là loại mắm cá chất lượng tốt nhất, dậy mùi thơm và phải ngọt đậm đà. Khi ăn kèm với hành, thì là, một chút lạc rang sẽ cho ta một vị đặc trưng.
Món cá lăng nướng cũng tuyệt vời không kém. Khi những viên thịt cá nướng thơm ngậy, vàng rộm được xếp lên đĩa, nổi bật giữa màu xanh của chuối, rau thơm và bát nước chấm sóng sánh đủ sắc, chỉ nhìn thôi cũng thấy ngọt lịm nơi đầu lưỡi rồi. Đặt một miếng cá lăng lên bánh cuốn có sẵn rau sống, lát chuối xanh, khế, dứa, bún cuộn lại chấm nhẹ trong bát mắm đủ vị của tỏi, chanh, ớt đường pha vừa miệng. Tất cả cứ lan tỏa dần trên đầu lưỡi. Vừa ăn, vừa nhâm nhi một chút rượu mạnh cùng cà kê với bạn bè, gia đình thì còn gì thú vị bằng!
Cá lăng nướng ăn kèm bún, rau sống, chuối xanh..
Nếu bạn muốn tìm cho mình một mùi vị thơm ngon của nước dùng, cá lăng om chuối là một lựa chọn thú vị. Màu đặc quánh ánh vàng của nước om, vị béo ngậy của miếng thịt ba chỉ quyện trong vị ngọt của cá lăng và mềm thơm của từng khoanh đậu, khoanh chuối khiến bạn khó có thể cưỡng lại. Để giữ được sự tinh túy và hương vị đặc trưng của món ăn lạ miệng ấy, tất cả phải được chuẩn bị công phu và tuân thủ theo một quy trình chế biến nghiêm ngặt theo công thức bí truyền của nhà hàng.
Không chỉ cầu kỳ trong khâu chế biến, món cá lăng om chuối cũng đòi hỏi sự tinh tế của người biết thưởng thức. Chầm chậm hít hà, húp những thìa nước dùng nóng hôi hổi để cảm nhận trước tiên vị thanh ngọt của món, rồi để hồn mình tan dần theo mỗi miếng cá thơm trong miệng, lâng lâng mùi mẻ quanh quẩn khắp chân răng mới thấy được cái tinh tuý trong thế giới ẩm thực của nơi đây.
Cá lăng om chuối
Ngoài ra, thực khách phía Nam ưa món lẩu cá lăng, còn ở Đắk Lắk, Đắk Nông thì đặc sắc mà dân dã nhất là món lẩu cá lăng nấu lá dang. Đây là loại cây họ dây leo, mọc trong rừng, lá có vị chua thanh, khi nấu với cá, nó làm thịt cá chắc và không còn mùi tanh của cá.
[Read More...]


Cá chua Tây Nguyên



Người Tây Nguyên sống chân thật, mộc mạc, nên các món ăn chế biến cũng giản đơn. Nguồn thực phẩm không dồi dào, chủ yếu dựa vào tự nhiên nên mỗi khi săn bắt được thú rừng, được con cá… bao giờ cũng nghĩ cách để dành cho ngày hôm sau như phơi khô, sấy khô, treo gác bếp… Ðặc biệt là chế biến món cá chua. Thức ăn này để càng lâu càng ngon. Ðây là món ăn đặc sản Tây Nguyên.

Cách làm món cá chua thật dễ dàng. Trước hết cần chọn loại cá niệng để chế biến – Cá niệng trông hơi giống cá trôi nhưng mình dẹt có nhiều ở vùng sông suối Tây Nguyên. Cá được đánh hết vẩy, bỏ ruột, bóc mang và rửa sạch, cắt thành khúc nhỏ dày chừng 2 phân đến 3 phân, để trước gió cho ráo nước. Khi cá se khô, bắt đầu trộn đều với muối, ớt, lá bép (tức cây mì chính) thính ngô (được giã nhỏ mịn). Trộn đều xong cho vào ống nứa hay ống lồ ô khô, sạch, nút thật kín, chặt rồi gác lên dàn bếp hoặc dưới mái nhà, chỉ sau vài ngày là có thể ăn được. Cá chua để càng lâu ăn càng ngon vì miếng cá sắt lại nhờ các gia vị đã thấm sâu vào thịt cá làm cho người ăn thấy vị mặn của muối, vị cay của ớt rừng, vị ngọt đầm của lá bép, vị thơm của thính ngô và vị chua do hỗn hợp này đã được lên men…
Người Tây Nguyên mến khách. Nếu có dịp về Tây Nguyên chắc bạn sẽ được mời thưởng thức món đặc sản này
Nguồn: saigontoserco
[Read More...]


Gỏi lá Kon Tum



Tôi sinh sống và làm việc đã gần hai chục năm nay trên mảnh đất cực bắc Tây Nguyên, đã nghe nói thật nhiều về món ăn “có một không hai” – đó là món gỏi lá Kon Tum, thú thực đây là lần đầu tiên tôi mới có dịp được thưởng thức món ăn độc đáo này, quả là “danh bất hư truyền”…
Trước mặt chúng tôi là một cái bàn rộng bày la liệt hàng chục loại lá rừng xanh non mơn mởn trông thật bắt mắt. Trước khi “ăn lộc” rừng và thưởng thức món ăn, chị chủ quán Lê Thị Oanh cho biết, món gỏi này có tới 60 loại lá khác nhau. Đang giữa mùa khô Tây Nguyên, mà các loại lá rừng hầu như không thiếu một loại nào. Những loại lá có mặt trong món này được chọn theo tiêu chuẩn: hương vị phải có đủ bốn vị chính là: chua, cay, đắng, chát…
Trong “rừng lá” này chúng tôi chỉ nhận mặt được một vài loại lá quen thuộc như: đinh lăng, lá sung, xoài, ổi, cóc, lá vừng, lá bứa, ngũ gia bì, lá hồng ngọc, húng hắng, lá mơ, diếp cá, tía tô, kinh giới, cải xanh… còn mấy chục loại lá khác thì chịu. Gỏi lá được dọn ăn kèm với thịt cá lóc, cá trắm cỏ, cá chép, thịt heo ba chỉ luộc, tôm suối hấp. Để có được món gỏi thơm ngon, yếu tố quan trọng nhất là nước chấm. Theo chị Oanh, công thức gồm mẻ, gừng, riềng, thịt nạc và điều quan trọng còn phụ thuộc vào “tay nghề” pha chế, khi quệt món gỏi vào nước chấm sền sệt, ăn có hương vị rất khó diễn tả…
Các công đoạn chế biến món gỏi lá cũng lắm công phu. Khi lấy các loại lá từ rừng về phải biết cách bảo quản sao cho thật tươi, lá phải xanh non. Riêng loại cá ăn kèm phải trải qua nhiều công đoạn chế biến: róc thịt, lược bỏ hết xương ra, thái mỏng, cho vào một ít chanh và ướp với gừng, riềng trong 10 giờ để thịt cá chín và hết mùi tanh, đủ độ cứng và thấm gia vị. Khi ăn, thay vì dùng bánh tráng để cuốn, chủ quán hướng dẫn người ăn lấy từng loại lá đan lại với nhau thành hình chiếc phễu, gắp bỏ thêm miếng thịt, mấy lát cá và con tôm chiên vàng, chế vào đó một muỗng nước chấm. Có như vậy, món ăn có đủ hương vị chua chua, cay cay, xen lẫn bùi bùi, đăng đắng của lá và vị béo thơm ngậy của thịt, cá, tôm. Người thích nhâm nhi có thể uống rượu ngâm đinh lăng.
BÀI VÀ ẢNH: TẤN TÀI – TẤN LỘC
Nguồn: SGTT
[Read More...]


Lá é cá trích



Một món của người dân tộc thiểu số vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa. Món ăn được làm công phu với nguyên liệu đơn giản, chỉ là cá từ dòng suối trong, lá từ cây rau dại… Ấy thế mà ngon!

Tây Nguyên thường được biết đến với những núi đồi bạt ngàn cây xanh, với rừng già, với tiếng cồng chiêng, tiếng hát vang vọng núi rừng, với những cô gái trong bộ áo váy sặc sỡ hay chàng trai lưng quàng khố, vai đeo gùi và những câu chuyện huyền thoại dựng nước, giữ nước…
Nhưng không chỉ có thế. Ngày nay Tây nguyên còn được biết đến với những món ăn lạ nhưng rất ngon. Đó là những món ăn mộc mạc, mà để thực hiện người nấu chỉ cần ra suối bắt con cá, vào rừng hái nắm lá…
Món ngon đời thường
Với người dân tộc khác thì lá é cá trích là món ăn lạ, ngon và độc đáo. Thế nhưng với người dân tộc Jrai vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa thì đây chỉ là món ăn đơn giản thường ngày. Họ bắt cá trích nơi các dòng suối nước trong văn vắt, mang về xâu lại thành từng xâu, phơi hơi se se rồi gác trên chái bếp, chỗ gần bếp lửa. Khói và hơi nóng hàng ngày sẽ làm thịt cá chắc lại và có mùi khói ám rất lạ.
Cá trích đã khô đem nướng trên lửa than riu riu, cứ nướng một mặt chứ đừng trở nhiều – khác với cách nướng của người Kinh là trở đều hai mặt trong suốt quá trình nướng. Khi cá đã cháy sém một bên, người ta mới lật qua mặt còn lại nướng tiếp. Có thể nói, mọi nguyên liệu và dụng cụ để thực hiện món cá này đều đơn giản đến đáng ngạc nhiên, ngay cả phần vỉ nướng. Người Jrai không dùng vỉ nướng cá mà lấy thân tre chẻ ra như những cái nẹp, kẹp cá rồi dùng chính lạt tre cột ở hai đầu và nướng.
Lá é là loại lá có mùi hương và dáng lá hơi giống rau húng quế của mình nhưng vị nồng hơn và cành cũng như lá nhỏ hơn, khi nhấm thử trong lưỡi thì cả hương lẫn vị đều đậm đà, thơm hơn rau quế. Hiện nay người Kinh có lai tạo và cho trồng ở vườn rau nhưng không có hương vị bằng. Lá có mầu xanh biếc, dáng lá nhỏ như những lá quế còn non.
Khi dùng, lá é được phơi cho héo khoảng 50%, thấy lá sầu sầu là được. Khi đã héo, lá rũ xuống, người ta tước lá khỏi cọng (có người tiếc, dùng cả cọng nhưng cũng không ngon vì cũng chẳng có hương vị gì). Khi cá đã chín vàng đều, gỡ bỏ ruột, đầu, xương, da cá. Thịt cá xé nhỏ, cho vào cối cùng với lá é phơi héo và giã. Khi giã, cho muối hột vào từ từ và giã đến khi lá, cá và muối quện vào nhau, sau cùng thì cho ớt khô và cọng cỏ ngọt.
Mộc mạc mà ngon
Cỏ ngọt cũng là một loại lá cỏ rất đặc biệt của vùng Tây nguyên, chỉ có vào tháng 10 – 11 hằng năm. Lá cỏ lớn hơn lá cỏ gấu. Vào mùa, cỏ nhiều, người Jrai hái và đem phơi khô rồi cứ gác ở chái bếp để dùng quanh năm, khi nhấm thử, vị của lá như bột ngọt nhưng lại là vị ngọt rất tự nhiên. Sau khi phơi khô, người Jrai lấy và giã nhiều lần cho thành bột rồi cất đi để riêng, lúc nào dùng sẽ lấy ra để nêm nếm món ăn, hoặc trộn chung với lá é, cá trích. Thông thường, chỉ khi nào có khách quý người ta mới dùng đến loại cỏ này. Bây giờ đa phần họ dùng bột ngọt thay cho cỏ ngọt, tuy nhiên trong nhà bao giờ cũng trữ một ít bột cỏ khô để dành khi cần đãi khách.
Lá é cá trích thường được dọn với cơm dẻo, dùng như muối mè của người Việt, không phải là gia vị chấm. Gạo để nấu cơm là gạo nương, hạt thô, màu hơi xám, mới nhìn như gạo cũ và có vẻ như mốc, nhưng không phải vậy. Khi nấu, nếu là gạo mới thì rất dẻo, dẻo như cơm nếp. Khi cũ, gạo sẽ se hạt, tựa như gạo thơm dẻo của người Kinh. Dọn kèm món ăn này là những món thịt rừng nướng, nhất là thịt bò nướng theo kiểu người Jrai, rất ngon.
Không phải là một món ăn cao sang, cũng không có một tên gọi hoa mỹ, lá é cá trích mộc mạc như bản chất của người dân tộc thiểu số. Món ăn tuy không đẹp nhưng khi ăn, để lại trong lòng khách một cảm giác thật ngon, ngon vì lạ và ngon vì chính bản chất bình dị, tự nhiên của món ăn… Ngon quá!
Bài & ảnh DZOÃN VÂN
Nguồn: Monngonvietnam
—————-
Chú thích:
Phú Bổn là một tỉnh cũ thời Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9-1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia tỉnh Pleiku ra 2 tỉnh: Pleiku và Phú Bổn. Từ năm 1976, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn diện tích lại được nhập sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum.

Địa lý

Hành chính

Phú Bổn giáp hai tỉnh Pleiku và Bình Định về phía bắc, tỉnh Phú Yên về phía đông, Đắc Lắc về phía nam và tây nam, Pleiku về phía tây. Diện tích toàn tỉnh là 4.822 km². Tỉnh lỵ đặt tại Hậu Bổn (Cheo Reo). Tỉnh có 3 quận là Phú Thiện, Phú Túc (nay là Krông Pa) và Thuần Mẫn.
Quận lị Thuần Mẫn cách Hậu Bổn (Cheo Reo) 15 km về phía tây nam, nay nằm ở vùng giáp ranh hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc.
Sau năm 1975, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn địa bàn tỉnh chuyển sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum, riêng vùng phía nam quận Thuần Mẫn nay thuộc tỉnh Đắc Lắc.

Tự nhiên

Phú Bổn nằm ở cao độ từ 150 m đến 1.000 m, có núi rừng bao bọc chung quanh. Những ngọn núi cao ở đây gồm có Chu Tryan 1.331 m, Chu Kheur 1.088 m; Chu Dju cao 1.230 m, Chu Dlé Ya cao 1.215 m.
Sông chính của Phú Bổn là sông Ba (người Thượng còn gọi là Ia Ba hay Ea Pa), phát nguồn từ núi Ngọc Roo (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), chảy theo hướng bắc-nam, khi tới Cheo Reo thì gặp sông Ia Ayun. Sông Ia Ayun bắt nguồn từ chân núi Kon Lack (thuộc tỉnh Pleiku), chảy vào Phú Bổn theo liên tỉnh lộ số 7. Sông Ba có các sông nhánh chính là sông Ea Thul, phát nguồn từ núi Kong Wan Riom; sông Cà Lúi và sông Ba M’la, phát nguồn từ núi Chu Prong và sông Krong Nang phát nguồn từ núi Chu Dlé Ya. Vào mùa mưa, sông Ia Ayun và sông Krong Nang thêm nước vào sông Ba làm lưu lượng nước chảy mạnh về phía đông nam, cuốn nhiều đất phù sa bồi đắp cho bình nguyên Phú Bổn.

Khí hậu

Khí hậu Phú Bổn có hai mùa mưa nắng, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 3.

Dân số

Tính đến năm 1971, tỉnh Phú Bổn có tổng cộng 69.765 người, đa số là người Jarai và Bahnar.

Giao thông

Liên tỉnh lộ 7 là đường giao thông quan trọng, nối Phú Bổn với các tỉnh lân cận.
[Read More...]


Đặc sản sữa đậu nành




Đạo diễn, nhà biên kịch phim Lưu Trọng Ninh, người rất gắn bó và có nhiều duyên nợ với Đà Lạt đã có lần thốt lên: “Tôi nhớ nhất những buổi tối trời lạnh, ngồi uống ly sữa đậu nành nóng hổi ven bờ hồ Xuân Hương, thật nên thơ và khó quên”. Những gánh sữa đậu nành Đà Lạt quả thực là một nét rất riêng của phố núi, khiến đông đảo du khách yêu thích và mãi nhớ.
Sữa đậu nành Đà Lạt không phải cao sang gì, nó được ra đời từ những hạt đậu nành bình dị. Qua tay người ngâm, xay, qua lửa để nấu lên, thế là có ngay một ly sữa đậu thơm ngon. Nhưng sữa đậu nành Đà Lạt trở thành đặc sản bởi nó ăn khớp đến kỳ lạ với không gian lạnh phố núi, bởi ánh lửa hồng bập bùng giữ ấm sữa sôi nhè nhẹ và nhất là, bởi tình người dường như thân hơn khi ngồi cạnh nhau, cùng chia sẻ ly sữa nóng.
Quán sữa đậu nành trên đường Phan Đình Phùng- Đà Lạt
Không thể tính hết Đà Lạt có bao nhiêu hàng sữa đậu nành. Mỗi góc chợ, góc phố hầu như đều có một hàng sữa đậu nành. Bán sữa đậu nành không đòi hỏi kỳ công, chỉ cần một chiếc nồi to, trong đầy ắp sữa, đặt trên một bếp lửa đở, vậy là có thể mời gọi khách hàng đến thưởng thức. Đặc biệt nhất là sữa đậu nành Đà Lạt lúc nào cũng là hàng bình dân, chỉ với giá từ 2-3 ngàn đồng là có thể có một ly sữa nóng.
Nhưng không phải là bình dân mà sữa đậu nành không đi vào lòng người dân địa phương và du khách. Có những địa điểm bán sữa đậu nành được ưa chuộng tới mức trên các trang mạng về Đà Lạt, du khách chia sẻ với nhau những quán sữa đậu nành ngon, giá cả phái chăng. Đó là quán đậu nành trên đường Tăng Bạt Hổ, phục vụ không chỉ sữa đậu nành mà có cả sữa đậu xanh, đậu đen, đậu phụng, các loại bánh ăn kèm như su kem… chuyên bán vào ban đêm.
Hay quán sữa đậu góc bùng binh  đường 3/2- Hải Thương Lãn Ông, thu hút hàng trăm khách chỉ với món sữa đậu nóng. Và hàng chục gánh sữa đậu trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, khu chợ đêm Đà Lạt hay những gánh dọc hồ Xuân Hương. Đây là những địa chỉ phục vụ sữa đậu nành được du khách ưa chuộng nhất do sữa ngon, giá cả phải chăng và nhất là, có không gian đẹp để du khách vừa thưởng thức sữa đậu nóng, vừa hít hà cái lạnh Đà Lạt. Hàng trăm gia đình Đà Lạt sống nhờ vào nồi sữa đậu và đồng thời, họ cũng giúp hàng ngàn du khách có thêm một ấn tượng đẹp về phố núi mờ sương chỉ với ly sữa nóng.
Không chỉ dừng lại ở mức một thức uống khoái khẩu, một thú chơi Đà Lạt, sữa đậu nành thực sự là một loại thức uống bổ dưỡng. Bác sỹ Trần Danh Tài, chủ tịch hội Đông y Lâm Đồng từng phát biểu: “Tôi khẳng định, sữa đậu nành cho giá trị không kém gì sữa bò, thậm chí còn mang lại nhiều lợi ích hơn. Tôi luôn khuyên mọi người, nhất là phụ nữ và trẻ em tích cực dùng sữa đậu nành,  không chỉ sử dụng sữa bò vì sữa đậu nành cho bạn những thứ sữa bò không có”.
Theo bác sỹ Tài, sữa đậu nành giàu can xi, giàu đạm như sữa bò nhưng cơ thể dễ hấp thu và không có cholesterol, rất phù hợp với nhu cầu của người Việt, giá cả lại phù hợp với túi tiền của hầu hết mọi gia đình. Nhất là phụ nữ trong thời kỳ sinh sản và tiền mãn kinh, nên sử dụng sữa đậu nành hàng ngày, vừa đủ dưỡng chất mà lại không lo béo phì. Bác sỹ Tài khuyên các gia đình nên tự ngâm đậu nành, xay và sử dụng hàng ngày như thực phẩm bổ sung dinh dưỡng.
Tuy nhiên, ông cũng cho biết nếu không có điều kiện tự làm ở gia đình, có thể sử dụng sữa đậu nành được sản xuất công nghiệp nhưng phải bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Có thể sử dụng loại đóng chai hay tiện hơn là sử dụng loại sữa đậu nành tiệt trùng trong hộp giấy, vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo an toàn cho người uống.
Là người đã có gần nửa thế kỷ gắn bó với nghề y, nhất là với y học dân tộc, bác sỹ Trần Danh Tài rất khuyến khích người Việt nên sử dụng những thực phẩm phù hợp với tập quán, với khả năng kinh tế mà vẫn đảm bảo sức khoẻ lâu dài. Và mới đây, một cơ sở sản xuất sữa tại Đức Trọng đang trong quá trình thử nghiệm sản xuất và đóng sữa đậu nành vào hộp giấy. Hy vọng trong tương lai gần sẽ được sử dụng sữa đậu nành hộp giấy “made in Lâm Đồng”.
Diệp Quỳnh (Báo Lâm Đồng)
[Read More...]


Độc đáo ẩm thực trà phố núi




Trà – với nam giới thường chỉ sử dụng để uống (trà nóng, trà đá…), bên tách trà, các quý ông có thể trầm ngâm, thư thái vừa thưởng thức trà, vừa nhâm nhi điếu thuốc. Nhưng với phụ nữ, do phải lo toan nhiều thứ: lo cho gia đình, ngoài ra còn công tác xã hội, văn phòng, cơ quan… nên ít có thời gian để ngồi thưởng thức trà như nam giới.
Chính vì vậy Trung tâm ẩm thực trà đạo HaiYih – số 4 Trần Quốc Toản – Đà Lạt đã sáng tạo ra các món ăn từ đọt trà giúp chị em ngày càng xinh đẹp, trẻ trung hơn như: trà tươi tẩm bột chiên, kẹo trà, bánh hạnh nhân trà, bánh bao trà, xíu muội trà, trà đông, trứng chiên trà…
Trà đông hay còn gọi là đông sương trà
Với cuộc sống hiện đại như ngày nay, nam nữ bình quyền như nhau, vì thế người phụ nữ cũng cần phải chăm sóc, dành cho mình những gì tốt đẹp nhất. Đây cũng là những món ăn mang tính truyền thống của Việt Nam, rất dễ làm, lại sạch, đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Sau mỗi ngày làm việc căng thẳng, trở về nhà, chị em có thể dùng vài chiếc bánh bao trà, vài ly trà đông và thưởng thức ly trà nóng với viên xí muội trà, kẹo trà, chắc chắn sẽ giúp giảm đi sự mệt mỏi, căng thẳng trong người.
Kẹo trà- thường dùng chung với ly trà nóng
Chị Hà Thúy Linh – người nảy ra ý tưởng âm thực và làm đẹp tự trà cho biết: Với sản phẩm cao cấp trà oolong chị em có thể dùng để làm đẹp rất tốt. Ví dụ như lá trà, đọt trà có thể rửa sạch, ngâm muối, nấu sôi, rót ra ly, cho thêm một ít sữa tươi, vài giọt mật ong vào là có thể dùng để làm nước rửa mặt, một ngày rửa 2 lần, giúp làn da mịn màng, trắng sáng, giúp sát khuẩn cho da, và còn có thể giảm bớt mụn trên mặt.
Xí muội trà
Cũng có thể giảm stress bằng cách đun sôi 1kg trà búp tươi với 15 lít nước, sau đó rửa sạch, đun sôi, cho thêm một lít sữa tươi, một ít mật ong, đổ vào bồn tắm, ngâm mình trong vòng 45 phút ở nhiệt độ 45 – 50oC, tùy theo thể trạng của mỗi người có thể điều chỉnh độ nóng khác nhau, sau khi ngâm mình xong, toàn bộ phòng tắm sẽ bốc hơi trà rất thơm, giúp cơ thể thư giãn, sảng khoái giống như xông hơi vậy. Ngoài ra, trà oolong còn có chức năng trị các bệnh về da như: rôm xảy, dị ứng, nổi trái dạ…tắm liên tục trà oolong trong vòng 3 – 5 ngày giúp giảm bệnh, lành da, đặc biệt không để lại sẹo.
Bánh bao trà
Khi uống trà xong, bã trà có thể dùng để hút hết mùi hôi trong tủ lạnh, mỗi tuần khử mùi một lần, giúp tủ lạnh của gia đình bạn sạch sẽ, vệ sinh hơn.
Với đôi chân của chị em làm việc ở công sở, mang giày thường xuyên, bạn có thể dùng nước trà oolong để ngâm chân từ 30 – 40 phút, giúp cho chân được thư giãn, hết mùi hôi, hết mồ hôi chân.
Trà được coi là đa công dụng, ngoài chức năng dùng để uống, trị các bệnh huyết áp, tim mạch, chống hôi miệng….đặc biệt thích hợp với phụ nữ ở nhiều công dụng như đã nói ở trên.

Các bạn hãy chú ý và sử dụng xem sao nhé!

Nguyện Thu (Báo Lâm Đồng)
[Read More...]


Thịt nai Đắc Lắc




Thịt nai món đặc sản chủ yếu của vùng rừng núi Tây Nguyên chỉ còn phong phú ở Đắc Lắc mà Tây Bắc Việt Bắc bây giờ khó kiếm được trong những hành trình qua miền biên giới Thượng du Bắc Bộ.

Thịt nai tươi khác thịt bò ở chỗ ít gân, mở màu trắng ngà, mềm hơn cả thịt bê non. Thịt bò 7 món đã gây thêm muốn, có nơi trở thành đặc sản, nhưng 7 món nai vượt xa một cách bất ngờ, cho nên càng không thể so sánh với bò, cho dù là bê cũng không đọ nổi với thịt nai.
Nhà hàng đặc sản thịt nai tươi ở Buôn Ma Thuột thành phố trung tâm của tỉnh Đắc Lắc đã đưa thịt nai vào hầu hết thực đơn bữa thường, bữa tiệc… bằng các món nai nướng, nai xào làn, nai nhúng giấm nai lúc lác, sườn nai rán, cháo bao tử và sau cùng là nai khô hợp lại đủ 7 món như thịt bò. Nhưng với nai thì nai nướng, nai nhúng giấm, và nai khô lại là những món tiêu biểu nhất.
Thịt nai nướng thái mỏng ướp mở nước và gia vị rồi cắt mấy lát gừng nướng riêng để ăn nóng cùng lúc với nai nướng. Nai nướng không cần nước chấm, cũng không cần muối tiêu, miếng thịt nai nướng chín ngọt, mềm cộng với vị gừng nóng kích thích người ăn đến mê say mặc dù chưa dùng đến rượu bởi thịt nai khêu ngợi sự thèm muốn ăn hơn là uống. Còn ai đó đã có thói quen ăn nhậu cứ phải có chút nước thần đưa cay thì xin tuỳ ý và vô hại.
Nai nhúng giấm lại cứ như một bản nhạc đã chuyển gam bởi lẽ đã thấm đậm đà một hương vị không giống miếng nai nướng béo ngậy.

Nai nhúng cũng phải thái mỏng nhưng lại ướp với sả nước mắm ngon, ngũ vị hương và tỏi. Khi ăn phải dùng lẩu đặt giữa bàn, nước dùng có pha giấm đun sôi sục, cạnh lẩu là một khay to đựng đủ loại rau: sa lát,cà chua, hành tây thái khoanh, chuối xanh thái lát.
Thịt nai để sống bên ngoài gặp nhúng vào lẩu rồi ăn kèm với đồ sống mỗi thứ một tý hoặc chỉ ăn với rau sa lát hay khế với chuối xanh tuỳ theo sở thích và khẩu vị từng người, nhưng dù cách ăn nào thì cũng chỉ có ngon và cũng chỉ thích thú mà thôi.
Thịt nai nhúng giấm ăn được nhiều mà cũng không nặng bụng như thịt bò tuy cũng theo lối nhúng giấm. Nai nhúng giấm ăn kèm với bún hoặc bánh đa nướng vừa là món nhậu, vừa là món ăn no.

Nai khô có thể là đầu bảng trong các món nai. Thịt nai thái ngang thớ, miếng dài chừng 5 cm ướp kỹ bằng xì dầu, sả, muối, đường, ớt mè trắng và ngũ vị hương.
Sau khi ướp trong vòng 80 phút lấy từng miếng nướng trên than hoa, nướng xong dùng sống dao dần cho miếng thịt mềm mại rồi ăn mà không cần chấm với bất cứ thứ gì.
Nai khô không béo ngậy như nai nướng vì cách thức và nguyên liệu tẩm ướp khác nhau nên miếng nai khô ngọt lịm lại được phép nhâm nhi với ly rượu cao nai thì quá tuyệt vời mà ở thành phố miền xuôi thì sao có được! Nhất là trong thời kỳ nghiêm cấm săn bắt thú rừng quí hiếm ngày nay. Chẳng biết rồi mai đây Buôn Ma Thuật còn có thịt nai 7 món như bây giờ?
Theo Ẩm Thực 365
[Read More...]


Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2011 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Hack Tutors