You are here: » Home » Posts filed under Bắc Trung Bộ
Bánh đa nem Cầu Bố
21:36
admin
Càng gần đến những ngày Tết cổ truyền, làng nghề bánh đa nem Cầu Bố (phố Quang Trung 1 và Quang Trung 2), phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa như càng sôi động hơn. Bánh đa nem Cầu Bố đã từ lâu được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến.
Chè bột lọc heo quay - độc đáo món Huế
09:06
admin
Chè bột lọc thịt quay hay còn được gọi ngắn gọn bằng cái tên chè thịt quay, là món chè độc đáo được xem là "độc nhất vô nhị" của Huế.
Về cơ bản, cách làm không khác gì chè bột lọc thông thường. Điều làm nên sự độc đáo và khác biệt lớn nhất chính là bên trong viên bột, thay vì là một hột đậu phụng rang thì đó là một "viên" thịt nạc heo quay.
Để có một nồi chè bột lọc nhân thịt heo quay, nguyên liệu gồm có bột lọc (bột năng, bột khoai mì) thịt đùi heo quay, đường, mè rang vàng giã nhuyễn, gừng non cắt sợi.
Thịt đùi heo quay cắt hạt lựu, trộn đường phèn, đổ nước vào (xăm xắp mặt) đặt lên bếp rim nhỏ lửa cho thịt ngấm đường, (nước đường rim xong đổ bỏ vì có màng mỡ) vớt ra đem phơi nơi bóng râm để thịt heo trở nên trong. Khi thịt trong mới trộn vào một ít ngũ vị hương để nhân có mùi thơm đặc trưng.
Bột lọc chọn mua loại tốt, dáo (nhồi) với nước ấm thật mịn, dẻo, không dính tay là được. Vo bột thành từng viên nhỏ cỡ ngón tay cái, cho nhân thịt vào giữa xếp trên dĩa. Tiếp đến là công đoạn sên nước đường. Đường phèn cho vào nồi đun lửa nhỏ, khi đường đã ngả sang màu vàng mới châm thêm nước lọc. Đợi nước đường sôi, thả nhẹ từng viên bột vào. Khi viên bột chín sẽ trong và nổi lên, vớt bọt để nồi chè trong, trước khi tắt bếp nhớ cho gừng vào.
Múc chè ra chén, rắc thêm mè rang, thưởng thức ngay khi vừa nấu hoặc dùng nguội đều ngon. Bột trong dai giòn cộng với vị ngọt thanh của đường phèn, vị béo của thịt làm cho món chè bột lọc bọc thịt heo quay mang hương sắc riêng, không lẫn vào đâu được.
Cái tinh tế của món chè lọc quay này là người ăn chè đang nhai nhè nhẹ viên bột để thưởng thức cảm giác dai dai, dòn dòn pha lẫn vị ngọt thanh thanh của đường phèn thì bất ngờ nhận ra vị béo nhẹ, đậm đà của vị thịt quay. Viên thịt trộn lẫn với vị ngọt chè làm thành một thứ mùi vị rất lạ miệng.
Món chè này thường được làm khi trong gia đình có giỗ chạp hay đám tiệc lớn, vì thời điểm này, món heo quay luôn có mặt và một vài miếng thịt nạc heo quay nho nhỏ sẽ được thẻo bớt, chuyển qua những người phụ trách các món chè, bánh ngọt. Một viên chè chỉ cần một mẩu thịt nhỏ xíu thì có nấu cả vài chục chén chè cũng chẳng tốn đến nửa lạng thịt. Nhưng món ăn ngọt nhân thịt mặn này đã có ít nhiều thêm thắt khi có người làm phần nhân thịt quay với nấm mèo và măng luộc cắt nhỏ. Họ xào lại ba loại thực phẩm này với gia vị thành một loại nhân riêng biệt để làm món chè bột lọc thịt quay.
Bằng sự sáng tạo tuyệt vời, người Huế đã tạo nên một món chè món chè mang phong cách "rất Huế". Và đương nhiên, món chè lạ này luôn được sắp hàng đầu trong thực đơn những món ăn ngọt của bữa cơm mang phong cách cung đình. Ngày nay, có thể tìm thấy món chè độc đáo này một cách dễ dàng ở hầu hết các con hẻm của thành phố Huế.
Sưu tầm
[Read More...]
Về cơ bản, cách làm không khác gì chè bột lọc thông thường. Điều làm nên sự độc đáo và khác biệt lớn nhất chính là bên trong viên bột, thay vì là một hột đậu phụng rang thì đó là một "viên" thịt nạc heo quay.
Để có một nồi chè bột lọc nhân thịt heo quay, nguyên liệu gồm có bột lọc (bột năng, bột khoai mì) thịt đùi heo quay, đường, mè rang vàng giã nhuyễn, gừng non cắt sợi.
Thịt đùi heo quay cắt hạt lựu, trộn đường phèn, đổ nước vào (xăm xắp mặt) đặt lên bếp rim nhỏ lửa cho thịt ngấm đường, (nước đường rim xong đổ bỏ vì có màng mỡ) vớt ra đem phơi nơi bóng râm để thịt heo trở nên trong. Khi thịt trong mới trộn vào một ít ngũ vị hương để nhân có mùi thơm đặc trưng.
![]() |
| Nhân viên chè bằng thịt heo quay là nét ẩm thực độc đáo của món ăn này |
Múc chè ra chén, rắc thêm mè rang, thưởng thức ngay khi vừa nấu hoặc dùng nguội đều ngon. Bột trong dai giòn cộng với vị ngọt thanh của đường phèn, vị béo của thịt làm cho món chè bột lọc bọc thịt heo quay mang hương sắc riêng, không lẫn vào đâu được.
![]() |
| Bát chè bột lọc thịt heo quay thơm lừng, hấp dẫn |
Món chè này thường được làm khi trong gia đình có giỗ chạp hay đám tiệc lớn, vì thời điểm này, món heo quay luôn có mặt và một vài miếng thịt nạc heo quay nho nhỏ sẽ được thẻo bớt, chuyển qua những người phụ trách các món chè, bánh ngọt. Một viên chè chỉ cần một mẩu thịt nhỏ xíu thì có nấu cả vài chục chén chè cũng chẳng tốn đến nửa lạng thịt. Nhưng món ăn ngọt nhân thịt mặn này đã có ít nhiều thêm thắt khi có người làm phần nhân thịt quay với nấm mèo và măng luộc cắt nhỏ. Họ xào lại ba loại thực phẩm này với gia vị thành một loại nhân riêng biệt để làm món chè bột lọc thịt quay.
![]() |
| Nhân viên chè có thể bao gồm cả nấm mèo, măng luộc tùy vào sở thích người chế biến |
Sưu tầm
Nhớ bánh lá răng bừa xứ Thanh
09:13
admin
Vào những dịp lễ tết, hầu như gia đình nào ở làng quê xứ Thanh cũng làm bánh lá răng bừa để cúng tổ tiên và cho con cháu xa gần thưởng thức.
Trên mâm cỗ ngày tết cổ truyền hay những ngày lễ trong năm, tuy có rất nhiều thức ăn ngon nhưng luôn có thêm đĩa bánh lá răng bừa (chiếc bánh nhỏ, thon như răng của chiếc bừa) bốc khói nghi ngút, thơm lừng mùi hành mỡ, lá chuối thật hấp dẫn.
![]() |
| Bà con xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) làm bánh lá răng bừa phục vụ du khách đến với lễ hội Lê Hoàn – Ảnh: Hà Đồng |
Để có những đĩa bánh lá răng bừa thơm ngon, nóng hổi kịp cúng tổ tiên vào sáng sớm hôm sau, các bà, các mẹ, các chị quê tôi phải thức khuya để làm từ đêm hôm trước.
Để làm bánh lá răng bừa, gạo tẻ phải ngâm trong nước lạnh khoảng 2 – 3 giờ rồi đem xay thành bột, thường là xay cùng với nước, bằng chiếc xay bột quay tay thủ công cho bột dẻo. Còn nếu xay bột khô bằng máy thì phải pha nước cho vừa đủ. Sau đó, bột làm bánh được đặt lên bếp nấu, tay khuấy đôi đũa trong nồi liên tục sao cho bột không bị vón cục, không quá chín. Đến khi nồi bột gạo đặc sền sệt thì bắc ra ngoài để bắt đầu gói bánh.
Lá để gói loại bánh này thường là lá dong lấy từ trên miền núi về, hoặc lá chuối tươi cắt ở vườn nhà đã được hơ qua lửa nhằm tăng độ dẻo cho lá và khỏi rách.
Nhân bánh lá răng bừa gồm hành khô, thịt ba chỉ băm nhỏ, mộc nhĩ trộn với hạt tiêu, muối vừa đủ. Nếu làm bánh lá răng bừa để lễ chay hoặc đi lễ chùa thì nhân bánh được làm bằng lạc hoặc đậu.
Sau khi gói xong, những chiếc bánh lá răng bừa bằng ngón tay trỏ hoặc như những chiếc răng bừa xinh xắn được xếp ngay ngắn vào nồi, sau đó đổ nước đun sôi rồi luộc chín.
Mỗi mâm cỗ quê tôi vào những dịp lễ tết không thể thiếu hai đĩa bánh lá răng bừa nghi ngút khói, thơm ngon. Ngồi giữa quê nhà bình yên, được thưởng thức món bánh lá răng bừa thơm mùi gạo, ngầy ngậy mùi nhân bánh thì thật là thú vị.
Đặc biệt, trong nhiều năm qua tại lễ hội Lê Hoàn (diễn ra từ ngày 7 đến 9-3 âm lịch hằng năm) ở xã Xuân Lập (huyện Thọ Xuân), nhằm tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc Lê Hoàn, món bánh lá răng bừa – đặc sản của xứ Thanh – được du khách thập phương rất ưa chuộng.
Mỗi khi về với lễ hội Lê Hoàn, du khách thường mua bánh lá răng bừa để làm quà cho bạn bè phương xa.
Theo TTO
Ốc Huế
21:47
admin
Không như ốc ở những nơi khác, ốc Huế có đủ các vị mặn, ngọt, chua, cay, nồng. Một chút cay của tiêu, ớt, một chút nồng và thơm của gừng sả, một chút mặn mà của nước mắm, một chút vị ngọt toát ra từ thịt ốc...
Tất cả làm nên một món ăn vừa ngon vừa thơm. Chỉ cần nhìn thấy đĩa ốc nóng hổi bốc khói, mùi thơm ngào ngạt là mọi người đều có cảm giác thèm và bị quyến rũ ngay.
Ốc được lấy từ những nơi có mực nước không cạn cũng không sâu, thường ở lưng chừng sông hoặc đồng ruộng. Vì thế người ta mới gọi là “mò ốc”. Sông nước ở Huế có “vị” rất riêng làm cho ốc và hến ở đây định hình một hương vị đặc trưng mà không nơi nào có được. Ngày nay, do nhu cầu tiêu thụ quá lớn, lượng ốc trên các sông hồ trong nội thành đã trở nên khan hiếm, nguồn cung cấp chủ yếu là từ các vùng quê ven thành phố.
Có hai loại ốc: ốc hút và ốc bươu (người Huế thường gọi là ốc nhỏ và ốc to). Ốc thường được ăn kèm với chén nước mắm gừng, ớt tỏi cay, đĩa rau sống tươi ngon có thêm vài lát vả, dưa leo và chuối chát. Thêm vào đó là món bánh tráng giòn tan hoặc bánh phồng tôm chiên giòn. Dụng cụ để ăn ốc, người Huế gọi là “cây khươi ốc” không phải là tăm như những nơi khác mà là gai của cây bồ kết, nó nhọn nên rất dễ “khươi”.
Mỗi lần ăn ốc xong, ai nấy đều hít hà vì cay và nóng. Họ hít hà còn vì ngon quá nữa. Trông người nào môi cũng đỏ lên, mồ hôi lấm tấm nhưng vẫn ăn ngon lành. Có người ăn đến chảy nước mắt, nước mũi nhưng vẫn ăn đến cùng với cảm giác... tuyệt cú mèo!
Tuy ốc thuộc vào dạng thức ăn mát, dễ gây đau bụng, nhưng món ốc ở Huế lại được chế biến một cách cẩn thận để loại trừ yếu tố đó. Ốc được ngâm ba lần qua nước muối, nước gạo, nước sạch để loại đi chất bẩn. Thêm vào đó là các gia vị ớt, gừng, sả mang yếu tố nóng có tác dụng giảm đau bụng. Đặc biệt, ốc được nấu chín kỹ nên rất an toàn.
Là một thành phố nổi tiếng về du lịch, Huế ngày càng đa dạng và đặc trưng hơn trong phong cách ẩm thực. Món ốc thu hút rất nhiều đối tượng từ học sinh, sinh viên, người lao động bình dân đến những người sành điệu và cả khách du lịch. Tất cả đều có chung một cảm nhận ốc là món rất khoái khẩu, ăn rồi nhớ mãi và muốn ăn nhiều lần hơn.
[Read More...]
Tất cả làm nên một món ăn vừa ngon vừa thơm. Chỉ cần nhìn thấy đĩa ốc nóng hổi bốc khói, mùi thơm ngào ngạt là mọi người đều có cảm giác thèm và bị quyến rũ ngay.
Ốc được lấy từ những nơi có mực nước không cạn cũng không sâu, thường ở lưng chừng sông hoặc đồng ruộng. Vì thế người ta mới gọi là “mò ốc”. Sông nước ở Huế có “vị” rất riêng làm cho ốc và hến ở đây định hình một hương vị đặc trưng mà không nơi nào có được. Ngày nay, do nhu cầu tiêu thụ quá lớn, lượng ốc trên các sông hồ trong nội thành đã trở nên khan hiếm, nguồn cung cấp chủ yếu là từ các vùng quê ven thành phố.
Có hai loại ốc: ốc hút và ốc bươu (người Huế thường gọi là ốc nhỏ và ốc to). Ốc thường được ăn kèm với chén nước mắm gừng, ớt tỏi cay, đĩa rau sống tươi ngon có thêm vài lát vả, dưa leo và chuối chát. Thêm vào đó là món bánh tráng giòn tan hoặc bánh phồng tôm chiên giòn. Dụng cụ để ăn ốc, người Huế gọi là “cây khươi ốc” không phải là tăm như những nơi khác mà là gai của cây bồ kết, nó nhọn nên rất dễ “khươi”.
Mỗi lần ăn ốc xong, ai nấy đều hít hà vì cay và nóng. Họ hít hà còn vì ngon quá nữa. Trông người nào môi cũng đỏ lên, mồ hôi lấm tấm nhưng vẫn ăn ngon lành. Có người ăn đến chảy nước mắt, nước mũi nhưng vẫn ăn đến cùng với cảm giác... tuyệt cú mèo!
Tuy ốc thuộc vào dạng thức ăn mát, dễ gây đau bụng, nhưng món ốc ở Huế lại được chế biến một cách cẩn thận để loại trừ yếu tố đó. Ốc được ngâm ba lần qua nước muối, nước gạo, nước sạch để loại đi chất bẩn. Thêm vào đó là các gia vị ớt, gừng, sả mang yếu tố nóng có tác dụng giảm đau bụng. Đặc biệt, ốc được nấu chín kỹ nên rất an toàn.
Là một thành phố nổi tiếng về du lịch, Huế ngày càng đa dạng và đặc trưng hơn trong phong cách ẩm thực. Món ốc thu hút rất nhiều đối tượng từ học sinh, sinh viên, người lao động bình dân đến những người sành điệu và cả khách du lịch. Tất cả đều có chung một cảm nhận ốc là món rất khoái khẩu, ăn rồi nhớ mãi và muốn ăn nhiều lần hơn.
Vả trộn
21:02
admin
Với tôi, trái vả không xa lạ bởi có những tháng năm dài làm sinh viên trọ học trên đất Huế. Nhưng có một điều ngạc nhiên khi về Huế lần này là vào bất cứ hàng quán nào, những người bạn của tôi đều gọi món vả trộn. Thì ra, bây giờ trái vả không chỉ để ăn sống như ngày trước, mà nó đã trở thành một trong những món đặc sản, kịp có mặt ở các nhà hàng.
Cây vả thuộc họ sung nhưng trái to hơn, không chát, ăn ngọt bùi và chỉ có ở Huế. Vả thường mọc ở góc vườn, bốn mùa tươi tốt. Các o bán hàng thường lấy lá vả gói bánh, rau, dưa, tôm. Trái vả được chế biến thành nhiều món ăn như: xắt ăn kèm rau sống, muối chua ăn với các loại thịt, kho, luộc… Nhưng độc đáo nhất, ngon và mang phong vị riêng của vùng đất cố đô phải kể đến món vả trộn.
[Read More...]
![]() |
| Vả trộn thịt heo nạc |
Theo lời cô chủ quán tại một quán khá nổi tiếng trên đường Hàn Mặc Tử thì cách chế biến món này khá công phu, gồm nhiều công đoạn. Đầu tiên phải chuẩn bị trái vả tươi xanh, sau đó đun nước thật sôi rồi cho trái vả vào luộc chín mềm. Khi vả chín vớt ra rồi cho toàn bộ vào nước lạnh, để nguội, gọt vỏ. Dùng dao xắt dọc trái vả thành từng miếng, vắt khô hết nước chát rồi đựng vào dụng cụ sạch. Vả có thể trộn với thịt heo nạc, tôm luộc, da heo… tùy theo sở thích. Dù trộn với gì đi nữa cũng không thể thiếu các loại gia vị như tiêu, mắm, muối, bột ngọt, ớt bột. Trộn xong đem trưng ra đĩa, bên trên thêm ít rau nêm, đậu phụng rang giã nát. Chỉ đơn giản vậy nhưng người ăn sẽ có một cảm giác thật ngon khi thưởng thức món này.
Để ăn vả trộn ngon, người dùng không cần đũa, chén mà thường bẻ bánh tráng nướng xúc. Vị bùi ngọt thơm của vả trộn, bánh tráng, gia vị ở đầu lưỡi có cảm giác kích thích trong dạ dày, hòa quyện tạo nên khoái thực riêng, ăn hoài không chán.
Từ một món ăn dân dã, trái vả đã chinh phục được sở thích của nhiều người và đã tạo được phong vị riêng cho đất Huế. Du khách khi đến Huế, ở bất địa điểm nào cũng đều có thể thưởng thức món vả trộn. Ăn vả trộn, uống ly rượu nồng, ngắm nhìn phong cảnh Huế, ta thấy được chút gì đó mà dường như từ lâu ta chưa hề bắt gặp bất cứ nơi đâu…
Tấn Trực
Theo Báo Thanh Niên
Về Cồn Tè ăn cá thuốc bắc
20:59
admin
Sau khi cây cầu Tam Giang (thường gọi là cầu Ca Cút) nối hai bờ phá Tam Giang (xã Hương Phong và Hải Dương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên – Huế) được đưa vào sử dụng vào cuối năm 2010, đã đánh thức tiềm năng du lịch của khu vực đầm phá Tam Giang.
Từ trung tâm TP Huế đi theo quốc lộ 49 về hướng Thuận An, đến cầu Diên Trường (xã Phú Tân, huyện Phú Vang) rẽ trái, đi thêm chừng 5 km nữa là đến Cồn Tè. Cồn Tè nằm cuối xã Hương Phong, nhìn ra cửa Thuận An. Tại đây, vào mùa hè, ngồi trên những căn nhà chồ bốn bề lộng gió, thưởng thức các món cá tươi rói mới bắt lên từ phá Tam Giang, mọi cảm giác mệt mỏi chừng như tan biến.
![]() |
| Ngọt thơm cá kình phá Tam Giang |
Theo các ngư dân có kinh nghiệm, sở dĩ hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có nhiều cá ngon là do nguồn nước luôn được luân lưu, môi sinh trong sạch. Mặt khác, đây cũng là vùng duy nhất trong phá Tam Giang còn lại loài rong hẹ (còn gọi rong cỏ kiệu) là thức ăn số một và cũng là nơi sinh cư lý tưởng của các loài cá con như cá mú, cá hồng, cá dìa, cá kình và cá nâu. Báo cáo khoa học về đa dạng sinh học các loài cỏ biển thuộc hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai của Viện Hải dương học Hải Phòng đã được Hội đồng khoa học Sở Khoa học – Công nghệ Thừa Thiên – Huế nghiệm thu năm 2005, cho biết: “Cây rong hẹ còn có tên là rong cỏ kiệu, một loài cỏ biển quý trong thảm thực vật hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Loài rong này khi sinh trưởng sẽ tạo nên một thảm thực vật hệ đáy của vùng đầm phá và trở thành nơi sinh cư lý tưởng cho các loài cá con, trong đó có các loài cá mú, cá hồng, cá nâu…”.
Các loài cá nâu, cá kình, cá dìa… ở phá Tam Giang rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Người Huế thường gọi chúng là những “con cá thuốc bắc”, bởi thịt cá có chức năng như một liều thuốc an thần nhẹ, chống mất ngủ và giảm tress rất hiệu quả. Đặc biệt, các món cá kình, cá nâu, cá dìa hấp mồng tơi ở đây vẫn được lưu truyền là loại thuốc trị chứng mất ngủ hiệu quả.
Các loại cá trên cũng đặc biệt ngon, bổ khi được nấu cháo. Khi những hạt gạo đã bắt đầu nở búp trong nồi, nước cháo sôi sùng sục, những chú cá ong, cá dìa, cá nâu tươi nguyên còn giãy đành đạch, được tẩm qua gia vị thả ào vào soong. Hương thơm bốc lên ngào ngạt. Húp bát cháo cá tươi quyện trong vị cay nồng của hành hương, mồ hôi trong người toát ra, mọi độc tố tồn đọng trong cơ thể dường như được tống khứ. Toàn thân nhẹ hẫng một cảm giác sảng khoái lâng lâng…
Bùi Ngọc Long
Canh môn
20:56
admin
Mùa mưa tới, những bụi khoai môn mập mạp vươn mình xanh ong óng một góc vườn nhà. Đừng tưởng chỉ có củ khoai môn to tròn tơi bở mới nấu được món canh ngon, với tôi đáng nhớ nhất là bát canh môn mẹ nấu từ những dải môn dài cong cong như vòi voi.Canh môn vốn là món ăn của người Mường xứ Thanh. Sau này khi nấu cho chị em tôi ăn, mẹ đã “biến tấu” đi đôi chút nhưng vẫn giữ nguyên cái hương vị núi rừng mộc mạc ấy. Góc vườn nhà tôi, những bụi khoai môn no nước lúc nào cũng xanh um mập mạp, cầm dao cắt một loáng là đủ một nồi canh. Nhưng phải chọn những nõn môn non nhất, hoặc dải môn nhỏ xíu bằng đầu đũa toàn thân phủ một màu tím biếc. Những vòi voi xinh xinh ấy được bóc sạch bẹ, cuộn tròn thành từng bó rồi sắp vào nồi. Canh môn ngon nhất là nấu cùng với da trâu.
[Read More...]
Ngày xưa ở các bản Mường, cứ mỗi lần mổ trâu, mổ bò, phần da lại được lọc ra để lên gác bếp. Những miếng da trâu đã khô lại ong óng nướng trên than hồng thơm lựng, thái nhỏ ra nấu cùng canh môn thì không còn gì hấp dẫn hơn. Nhưng món canh môn da trâu ấy có lẽ chỉ còn đọng lại trong ký ức. Giờ đây mẹ nấu môn với thịt bò, loại bạc nhạc nhiều gân là ngon nhất. Từng bó môn cuộn tròn trong nồi được đun lên thật lâu với thịt bò, đậu đen cho đến khi mềm quánh thì lấy đũa cả đánh tơi, nêm thêm ít mẻ chua, mắm tôm cho dậy mùi. Canh chín, rắc thêm vài sợi lá chanh, mùi tàu là hoàn chỉnh.
Bát canh môn sóng sánh, những dải môn vòi voi giờ ngả sắc vàng nâu, tơi mịn sánh quyện vào nhau. Ẩn hiện những lát thịt bò hồng hồng quyến rũ, sắc đen anh ánh của hạt đỗ đen to tròn lay láy và loáng thoáng những sợi lá chanh, mùi tàu xanh biếc. Ăn canh môn lần đầu tiên, có lẽ sẽ hơi ngại ngần cái vị ngai ngái vấn vít trong cổ họng. Nhưng một vài lần thì đâm “nghiện”. Vị béo của môn đậm đà mà thanh tao, thịt bò thơm mềm ngọt đậm. Húp một hơi, lại bắt gặp cái bùi bùi nha nhẩn của hạt đỗ đen. Mỗi lần nấu canh môn, mẹ thường nấu một nồi to, vậy mà đến cuối bữa chẳng bao giờ còn sót lại.
Ăn canh môn mẹ nấu từ hồi bé, nhưng mãi khi đi học xa nhà tôi mới vỡ lẽ rằng hóa ra bát canh ngọt ngào ấy chỉ có ở nhà mình. Để rồi mỗi khi nhớ mảnh vườn nhà quanh năm xanh mướt, lại nhớ da diết bát canh môn giản dị mà đậm đà từ bàn tay của mẹ.
Tịnh Tâm
Báo Thanh NiênRượu Kim Long- tứ đại danh tửu
20:52
admin
Theo khách sành điệu trong làng ve chén hiện nay, thì Việt Nam hiện có bốn loại rượu ngon nổi tiếng là rượu Làng Vân xứ Bắc, Kim Long ở Quảng Trị, Bàu Đá Bình Định và đế Gò Đen Nam Phần, gọi là Việt Nam Tứ Đại Danh Tửu.
- Rượu Làng Vân là đặc sản nổi tiếng của miền Bắc. Làng Vân thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Rượu làng Vân truyền thống được nấu từ nguyên liệu sắn (khoai mì).
- Rượu Bàu Đá là đặc sản của xứ võ Bình Định. Rượu được nấu từ thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn.
- Rượu Gò Đen được nấu ở Gò Đen, huyện Bến Lức, Tỉnh Long An.
![]() |
| Lao nấu rượu |
Rượu Kim Long được nấu tại làng Kim Long, xã Hải Quế, huyện Hải Lăng, tỉnhQuảng Trị. Nguyên liệu chủ yếu để làm nên chất có vị cay tuyệt vời này chính là…nước. Thời Pháp thuộc, sau một quá trình dài khảo sát và chọn lựa nhiều địa điểm, thực dân Pháp thiết lập 01 hãng rượu tại đây để sản xuất rượu, chuyển hết các lò nấu rượu trong dân vào nhà máy, đồng thời áp đặt lệnh nấu cấm rượu trong dân gian để độc quyền cung cấp rượu. Pháp cũng đã từng đưa nguyên dây chuyền công nghệ nấu rượu ở đây về Pháp quốc để sản xuất nhưng không thành công vì nguồn nước ở làng Kim Long rất đặc biệt.
Với hơn 500 hộ gia đình, hơn 2/3 hộ dân tại làng nấu rượu, sản xuất khoảng 02lit/ngày/hộ, vào thời điểm hiện tại (2009) bình quân tổng sản lượng rượu ra lò của làng chỉ khoảng 600lit/ngày. Và tất cả rượu ở đây đều được chưng cất hoàn toàn bằng phương pháp thủ công truyền thống.
Thời điểm hiện tại, Rượu Kim Long chỉ được phân phối và sử dụng trong phạm vi hẹp khu vực miền Trung Việt Nam.
![]() |
| Ủ gạo |
**Từ thời Pháp thuộc, sau khi tấn công chiếm kinh thành Huế, đô hộ Việt Nam, thực dân Pháp đã cử nhiều đoàn thăm dò địa chất để tìm nơi có thể lập hãng rượu. Sau khi tìm rất nhiều nơi thì đã quyết định chọn làng Kim Long để thành lập nhà máy sản xuất rượu. Khi rượu ra lò đóng vào chai, thì được đem ngâm trong hồ nước lạnh một thời gian ấn định, rồi dùng thuyền nhỏ chở rượu theo sông Vĩnh Định về Huế. Một phần nhỏ được tiêu thụ khắp lãnh thổ Việt Nam thời bây giờ, còn phần lớn được mang lên tàu chở về Pháp và từ đó xuất cảng khắp thể giới **
Cháo bột Hải Lăng
20:49
admin
CHÁO BỘT HẢI LĂNG ( tương tự như Bánh Canh Cá Lóc của người Nam Bộ) là món ăn đặc sản và khoái khẩu không thể thiếu của những người con Quảng Trị. Nếu là một người con đi xa mới về lại quê hương thì chắc chắn rằng món ăn đầu tiên để ấm lòng đó là Cháo Bột.
Không biết có từ bao giờ Cháo Bột với vị ngọt của cá lóc, vị thơm nồng của ném, vị cay của ớt, nóng… đã thấm sâu vào từng người con Hải Lăng-Quảng Trị và những người đã thưởng thức dù chỉ một lần.
Để có được một nồi cháo bột phải trải qua nhiều khâu chế biến khá công phu, kỹ lưỡng. Nguyên liệu chính là bột gạo (loại gạo thơm ngon, không quá dẻo, hoặc quá khô), đem ngâm nước vài giờ và xay thật mịn. Sau đó nhào thành bột, dùng ống tre cán thành tấm với độ mỏng vừa phải. Cái khó khi cán bột là khi thái thì bột không dính vào nhau, tức là không khô quá cũng không ướt quá.
Đặc trưng của cháo bột là cá tràu (có nơi gọi là cá quả, cá lóc, cá chuối, một số vùng ở Quảng Trị còn gọi là cá đô, cá tràu v.v…). Cá tràu phải chọn loại thật tươi, còn sống, đem làm sạch. Điều đặc biệt ở đây làm cá không được vứt bỏ ruột. (Một tô cháo bột sẽ mất ngon khi không có “bột lòng” cá! Có vị khách sành ăn còn muốn tô cháo của mình chỉ có toàn ruột cá tràu). Cá tràu làm xong để nguyên con luộc vừa chín tới, tách thịt ra ướp kỹ cùng với các gia vị khác như muối, tiêu, ớt.
Các gia vị ở đây còn có một loại cây họ hành, được gọi là cây ném, củ và cây đều có mùi cay cay, thơm ngon rất đặc trưng, không thể lẫn với các loại rau màu khác. Củ ném được giã giập ướp với cá, lá đem thái mịn để rắc lên cháo. Nước luộc cá làm nước cháo, cho tất cả bột, cá đã ướp đủ gia vị vào nồi sẽ có nồi cháo thơm lựng với tất cả các mùi vị béo ngậy, ngọt ngào của cá tràu, vị cay xé lưỡi của tiêu, ớt…, vị thơm của ném, hành… Muốn ngon phải ăn thật nóng, bưng tô cháo bột đang nghi ngút khói, cảm nhận được mùi vị thơm ngon. Những người bán cháo ở đây không mua bột bán sẵn ngoài chợ mà mua gạo về rồi tự xay, lọc, lắng thành bột khô. Vì thế cánh bột rất mềm và tươi ngon, thơm mùi gạo lại không bị chua, bán bao nhiêu làm bấy nhiêu chứ không để dư thừa.
Cháo ngon quyết định phần nhiều bởi cá và bột. Cháo ở đây tuyệt đối không dùng cá lóc nuôi, nếu nấu cá nuôi thì có mùi khá khó chịu với những người quá quen nghề, quen vị như chúng tôi. Cá đồng thịt rất thơm, béo nhưng không ớn, khi sôi lên tỏa mùi đã thấy thèm. Cá được thu mua từ những người làm nghề trong và ngoài huyện về ngâm một vài nước cho thải chất bẩn. Cách chế biến cũng lắm công phu, cá được luộc lên cho vừa độ chín là lấy xuống ngay để nguội, sau đó bóc hết thịt ra khỏi xương chia thành từng miếng nhỏ, phải chú ý lấy cho hết xương nhỏ trong các thớ thịt để khách ăn khỏi bị hóc xương. Số thịt này được ướp một chút muối tiêu nhưng nhiều củ nén. Xương cá xay ra chắt lấy nước nấu cháo. Khi bột chín tới thì thả cá vào cho thấm ngọt.
[Read More...]
Không biết có từ bao giờ Cháo Bột với vị ngọt của cá lóc, vị thơm nồng của ném, vị cay của ớt, nóng… đã thấm sâu vào từng người con Hải Lăng-Quảng Trị và những người đã thưởng thức dù chỉ một lần.
Để có được một nồi cháo bột phải trải qua nhiều khâu chế biến khá công phu, kỹ lưỡng. Nguyên liệu chính là bột gạo (loại gạo thơm ngon, không quá dẻo, hoặc quá khô), đem ngâm nước vài giờ và xay thật mịn. Sau đó nhào thành bột, dùng ống tre cán thành tấm với độ mỏng vừa phải. Cái khó khi cán bột là khi thái thì bột không dính vào nhau, tức là không khô quá cũng không ướt quá.
Đặc trưng của cháo bột là cá tràu (có nơi gọi là cá quả, cá lóc, cá chuối, một số vùng ở Quảng Trị còn gọi là cá đô, cá tràu v.v…). Cá tràu phải chọn loại thật tươi, còn sống, đem làm sạch. Điều đặc biệt ở đây làm cá không được vứt bỏ ruột. (Một tô cháo bột sẽ mất ngon khi không có “bột lòng” cá! Có vị khách sành ăn còn muốn tô cháo của mình chỉ có toàn ruột cá tràu). Cá tràu làm xong để nguyên con luộc vừa chín tới, tách thịt ra ướp kỹ cùng với các gia vị khác như muối, tiêu, ớt.
Các gia vị ở đây còn có một loại cây họ hành, được gọi là cây ném, củ và cây đều có mùi cay cay, thơm ngon rất đặc trưng, không thể lẫn với các loại rau màu khác. Củ ném được giã giập ướp với cá, lá đem thái mịn để rắc lên cháo. Nước luộc cá làm nước cháo, cho tất cả bột, cá đã ướp đủ gia vị vào nồi sẽ có nồi cháo thơm lựng với tất cả các mùi vị béo ngậy, ngọt ngào của cá tràu, vị cay xé lưỡi của tiêu, ớt…, vị thơm của ném, hành… Muốn ngon phải ăn thật nóng, bưng tô cháo bột đang nghi ngút khói, cảm nhận được mùi vị thơm ngon. Những người bán cháo ở đây không mua bột bán sẵn ngoài chợ mà mua gạo về rồi tự xay, lọc, lắng thành bột khô. Vì thế cánh bột rất mềm và tươi ngon, thơm mùi gạo lại không bị chua, bán bao nhiêu làm bấy nhiêu chứ không để dư thừa.
Cháo ngon quyết định phần nhiều bởi cá và bột. Cháo ở đây tuyệt đối không dùng cá lóc nuôi, nếu nấu cá nuôi thì có mùi khá khó chịu với những người quá quen nghề, quen vị như chúng tôi. Cá đồng thịt rất thơm, béo nhưng không ớn, khi sôi lên tỏa mùi đã thấy thèm. Cá được thu mua từ những người làm nghề trong và ngoài huyện về ngâm một vài nước cho thải chất bẩn. Cách chế biến cũng lắm công phu, cá được luộc lên cho vừa độ chín là lấy xuống ngay để nguội, sau đó bóc hết thịt ra khỏi xương chia thành từng miếng nhỏ, phải chú ý lấy cho hết xương nhỏ trong các thớ thịt để khách ăn khỏi bị hóc xương. Số thịt này được ướp một chút muối tiêu nhưng nhiều củ nén. Xương cá xay ra chắt lấy nước nấu cháo. Khi bột chín tới thì thả cá vào cho thấm ngọt.
Chắt chắt – Đặc sản sông Gianh
20:46
admin
Khúc sông Gianh chạy qua xã Phù Hoá, Quảng Trạch, Quảng Bình dài chừng bốn cây số. Đây là vùng giao thoa giữa nước lợ và nước ngọt. Vùng giao thoa này sinh ra một loài hến bé nhỏ, dân gian gọi là chắt chắt.
Hằng năm, vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch, sau một cơn mưa giông, nước ngọt đầu nguồn sông đổ về đây, gặp làn nước lợ từ dưới cửa biển dâng lên. Khí trời se lạnh, không gian khoáng đạt, hai làn nước trai tráng và nữ nhi ấy chảy oà vào nhau, tan trong nhau, nồng nhiệt trong nhau như một cuộc hoan lạc vĩ đại của sông nước, để rồi sinh ra hàng triệu hàng triệu triệu con chắt chắt nhỏ li ti.
Chuyện ấy kể như huyền thoại nhưng là cách để người dân Phù Hoá giải thích về sự ra đời của nghề xúc chắt chắt làng mình.
Người dân Phù Hoá còn nghèo lắm và nghề cào chắt chắt như một “cứu cánh”. Mùa chắt chắt nhiều nhất là từ tháng Ba đến tháng Tám, nay người Phù Hoá tận dụng cào đến cả tháng 10, 11 âm lịch. Sang mùa giá rét, chắt chắt càng ít đi, hơn nữa mùa này có cào được cũng ít người ăn. Làm nghề này, người ta chỉ sắm chiếc cào, đến mùa trầm mình xuống bờ cát ven sông xúc chắt chắt lẫn trong cát, rồi sàng cát xuống sông, lọc chắt chắt bỏ vào bao mang theo.
Người cào giỏi, ngày kiếm được vài chục lon, đem bán được vài chục ngàn đồng, vậy mà tất cả chi tiêu của gia đình đều từ đó mà ra. Bởi vậy, ở Phù Hoá có gia đình đi cào đủ cả cha mẹ, con cái để kiếm được nhiều chắt chắt, mong đắp đổi hàng ngày. Nhưng cũng thật lạ! Làng Phù Hoá từ xưa đến nay lại được xem là đất học của tỉnh Quảng Bình.
Làng là nơi sinh ra danh nhân văn hoá Nguyễn Hàm Ninh, thầy dạy học của Vua Tự Đức. Làng Phù Hoá bây giờ tính ra có hàng trăm người có học vị tiến sĩ, cử nhân… và hàng chục em vào đại học mỗi năm. Người già ở Phù Hoá thường cắt nghĩa: “Làm nghề này mới biết chịu thương chịu khó để nên người, biết đem cho người cái ngọt ngào còn nhận về mình cay đắng nhọc nhằn. Biết ăn, biết ở, trời cho lại”.Muốn ăn con chắt chắt cũng kỳ công lắm. Chắt chắt cào được đem xa (rửa) thật kỹ vài ba nước, để cho ráo rồi đun xoong nước thật sôi mới thả vào, bỏ ít muối hạt, dùng bó đũa đánh nhiều lần để gạt nhân sang xoong khác. Bị nước nóng, vỏ chắt chắt nở ra, mặt rời vỏ, nổi lên theo nước sang xoong khác. Cứ gạn qua gạn về cho hết mặt thì thôi. Nước chắt chắt sau khi nấu xong có thể làm canh chan ăn ngay với cơm, thêm chút muối ớt, gừng, cảm giác ngọt lịm.
Chắt chắt còn được xào với mít non lá lốt. Xưa nay, món này dành cho người nghèo. Mít non gọt vỏ, băm nhỏ, thêm một ít lá lốt thái mịn trộn đều xào với chắt chắt. Món này bây giờ được bán ở quán nhậu cũng “hút” khách đáo để vì nó được được dân nhậu phong là “đệ nhất dinh dưỡng” và “đệ nhất sạch”…
Người thích ăn kiểu thông thường thì có thêm ít rau muống hay rau tập tàng thái nhỏ đun vừa chín tới, chan với cơm hoặc bắp rang để ăn. Còn nhân chắt chắt nếu ăn bình thường thì đổ lẫn canh, nếu muốn làm món nhậu thì vớt ra cho vào chảo, bỏ ít dầu, gia vị xào lên, đem xúc bánh tráng, cam đoan ăn mệt nghỉ, còn ăn được chừng nào thì còn thèm chừng ấy. Món này hiện được các quán nhậu bình dân khai thác làm đồ nhậu vừa rẻ, vừa hút thực khách.
Lấy bánh đa xúc vào dĩa chắt chắt, dùng đũa gắp một ngọn rau thơm để lên trên và đưa vào miệng. Từ từ nhai để tận hưởng cái giòn tan của bánh đa, cái hương thơm đượm vị phù sa của vừng, cái ngầy ngậy của chắt chắt, trong một chút cay của ớt, một chút chua của cà, một chút nồng của tiêu, một chút thơm của hành… Và cảm giác như vũ trụ đã hội đủ trong vòm họng…
Phan Phương
(Dân Việt)
[Read More...]
Hằng năm, vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch, sau một cơn mưa giông, nước ngọt đầu nguồn sông đổ về đây, gặp làn nước lợ từ dưới cửa biển dâng lên. Khí trời se lạnh, không gian khoáng đạt, hai làn nước trai tráng và nữ nhi ấy chảy oà vào nhau, tan trong nhau, nồng nhiệt trong nhau như một cuộc hoan lạc vĩ đại của sông nước, để rồi sinh ra hàng triệu hàng triệu triệu con chắt chắt nhỏ li ti.
Chuyện ấy kể như huyền thoại nhưng là cách để người dân Phù Hoá giải thích về sự ra đời của nghề xúc chắt chắt làng mình.
Người dân Phù Hoá còn nghèo lắm và nghề cào chắt chắt như một “cứu cánh”. Mùa chắt chắt nhiều nhất là từ tháng Ba đến tháng Tám, nay người Phù Hoá tận dụng cào đến cả tháng 10, 11 âm lịch. Sang mùa giá rét, chắt chắt càng ít đi, hơn nữa mùa này có cào được cũng ít người ăn. Làm nghề này, người ta chỉ sắm chiếc cào, đến mùa trầm mình xuống bờ cát ven sông xúc chắt chắt lẫn trong cát, rồi sàng cát xuống sông, lọc chắt chắt bỏ vào bao mang theo.
Người cào giỏi, ngày kiếm được vài chục lon, đem bán được vài chục ngàn đồng, vậy mà tất cả chi tiêu của gia đình đều từ đó mà ra. Bởi vậy, ở Phù Hoá có gia đình đi cào đủ cả cha mẹ, con cái để kiếm được nhiều chắt chắt, mong đắp đổi hàng ngày. Nhưng cũng thật lạ! Làng Phù Hoá từ xưa đến nay lại được xem là đất học của tỉnh Quảng Bình.
Làng là nơi sinh ra danh nhân văn hoá Nguyễn Hàm Ninh, thầy dạy học của Vua Tự Đức. Làng Phù Hoá bây giờ tính ra có hàng trăm người có học vị tiến sĩ, cử nhân… và hàng chục em vào đại học mỗi năm. Người già ở Phù Hoá thường cắt nghĩa: “Làm nghề này mới biết chịu thương chịu khó để nên người, biết đem cho người cái ngọt ngào còn nhận về mình cay đắng nhọc nhằn. Biết ăn, biết ở, trời cho lại”.Muốn ăn con chắt chắt cũng kỳ công lắm. Chắt chắt cào được đem xa (rửa) thật kỹ vài ba nước, để cho ráo rồi đun xoong nước thật sôi mới thả vào, bỏ ít muối hạt, dùng bó đũa đánh nhiều lần để gạt nhân sang xoong khác. Bị nước nóng, vỏ chắt chắt nở ra, mặt rời vỏ, nổi lên theo nước sang xoong khác. Cứ gạn qua gạn về cho hết mặt thì thôi. Nước chắt chắt sau khi nấu xong có thể làm canh chan ăn ngay với cơm, thêm chút muối ớt, gừng, cảm giác ngọt lịm.
Chắt chắt còn được xào với mít non lá lốt. Xưa nay, món này dành cho người nghèo. Mít non gọt vỏ, băm nhỏ, thêm một ít lá lốt thái mịn trộn đều xào với chắt chắt. Món này bây giờ được bán ở quán nhậu cũng “hút” khách đáo để vì nó được được dân nhậu phong là “đệ nhất dinh dưỡng” và “đệ nhất sạch”…
Người thích ăn kiểu thông thường thì có thêm ít rau muống hay rau tập tàng thái nhỏ đun vừa chín tới, chan với cơm hoặc bắp rang để ăn. Còn nhân chắt chắt nếu ăn bình thường thì đổ lẫn canh, nếu muốn làm món nhậu thì vớt ra cho vào chảo, bỏ ít dầu, gia vị xào lên, đem xúc bánh tráng, cam đoan ăn mệt nghỉ, còn ăn được chừng nào thì còn thèm chừng ấy. Món này hiện được các quán nhậu bình dân khai thác làm đồ nhậu vừa rẻ, vừa hút thực khách.
Lấy bánh đa xúc vào dĩa chắt chắt, dùng đũa gắp một ngọn rau thơm để lên trên và đưa vào miệng. Từ từ nhai để tận hưởng cái giòn tan của bánh đa, cái hương thơm đượm vị phù sa của vừng, cái ngầy ngậy của chắt chắt, trong một chút cay của ớt, một chút chua của cà, một chút nồng của tiêu, một chút thơm của hành… Và cảm giác như vũ trụ đã hội đủ trong vòm họng…
Phan Phương
(Dân Việt)
Khoai deo
20:42
admin
Từ khoai có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau từ bình dân đến sang trọng như khoai nướng, khoai chiên, khoai luộc, khoai nấu canh, khoai nấu chè, khoai làm bánh, làm mứt. Nhưng có lẽ đặc biệt nhất vẫn là món khoai deo, chế biến thật giản đơn và nhiều ý nghĩa.Người ta thu hoạch khoai về, để một thời gian cho củ khoai tan bớt bột, rồi đem khoai đi luộc. Khoai luộc bóc vỏ, thái thành lát mỏng, đem phơi. Chế biến khoai deo phải những ngày nắng to, khoai mới nhanh khô và dẻo hơn. Những lát khoai đạt thành phẩm, phải là những lát khoai khô, dẻo có màu đỏ vàng, trong và có vị ngọt.
[Read More...]
Người ở phương xa về, lúc ra đi, không ai mà không mang theo thứ khoai deo làm quà, hương vị rất riêng của Quảng Bình.
Những ngày mưa xa xứ, nằm nhâm nhi từng lát khoai deo, tận hưởng vị ngọt thấm dần vào nơi đầu lưỡi, nghe mưa rào rào bên ngoài, lại nao nao nỗi nhớ quê hương.
Theo VnExpress
Bánh xèo Quảng Hòa
20:40
admin
Loại bánh xèo bằng gạo đỏ, hoa văn nổi đều, đơn giản nhưng phải đủ các món kèm theo: cá chuối, nộm, rau sống, bánh đa và nước chấm.
Cô Hoàng Thị Kiều Thanh – Phó hiệu trưởng trường THCS Quảng Hòa (H.Quảng Trạch, Quảng Bình) giới thiệu: “Đây là vùng Nam Quảng Trạch, nói đến xã Quảng Hòa, người ta nghĩ ngay đến bánh xèo, bánh đúc, bánh đa”.
Dĩa nộm gồm có giá, rau két và vừng. Đậu đổ giá làm nộm phải loại đậu đỏ, hạt to bậm. Gạo làm bánh xèo là loại lúa mành màu đỏ chỉ xay bóc vỏ lúa (còn có tên gọi là gạo đỏ, gạo lứt) ngâm nước khoảng 5 tiếng đồng hồ rồi đem xay, dùng môi múc cả nước và gạo bỏ vào cối xay từ từ. Xay được 2 lần cho gạo mịn. Xay xong, bỏ một ít muối, hành hẹ thái nhỏ vào trong thau nước bột gạo. Khuôn tráng bánh cũng do bàn tay người đàn ông Quảng Hòa làm ra, miệng lớn hơn bát ăn cơm một tí, thành khuôn mỏng, cao khoảng 1,5cm, đáy bằng phẳng. Bếp làm có thể tráng một lúc được nhiều khuôn. Bếp thật đỏ lửa mới bỏ khuôn lên, khi tráng bánh chú ý lửa thật đỏ và đều thì bánh mới nở dậy, có hình hoa văn. Khi khuôn đã nóng, dùng môi hay tàu chuối tẩm mỡ chà lên đáy khuôn rồi múc bột gạo tráng lên. Tráng đến khuôn thứ 3 thì bánh khuôn đầu đã chín, cứ lần lượt làm như thế.
Món cá chuối lạ mắt nhất. Nguyên liệu chính là những quả chuối sứ (loại chuối có hạt) chưa già nhưng cũng không non quá. Người ta hái xuống, gọt vỏ, ngâm với phèn hoặc chanh rồi thái nhỏ. Sau đó luộc, uốn hình thù con tôm, con cá. Rồi lấy từng con cá chuối nhúng qua vào bát gia vị. Lúc sắp cá lên dĩa, có thể rưới thêm một ít gia vị có ớt, tỏi. Như vậy trong mỗi lát cá đều thấm gia vị. Khi ăn, lấy bánh xèo cuốn rau sống, nộm, cá chuối lại rồi kẹp vào bánh đa.
Cô Thanh bảo, bánh xèo ăn ngon nhất là lúc vừa tráng xong, tráng tới đâu ăn tới đó. Cầm miếng bánh trên tay, cảm nhận được sự nóng hổi của mùi thơm gạo lứt thì thật tuyệt vời. Ngày trước nhà nào cũng có làm, làm chủ yếu để ăn trong gia đình. Trước khi tôi đi K8, mạ tôi nói: “Để mạ mần cho nồi bánh mà ăn cho đã thèm”.
Theo Báo Thanh Niên
[Read More...]
Cô Hoàng Thị Kiều Thanh – Phó hiệu trưởng trường THCS Quảng Hòa (H.Quảng Trạch, Quảng Bình) giới thiệu: “Đây là vùng Nam Quảng Trạch, nói đến xã Quảng Hòa, người ta nghĩ ngay đến bánh xèo, bánh đúc, bánh đa”.
Dĩa nộm gồm có giá, rau két và vừng. Đậu đổ giá làm nộm phải loại đậu đỏ, hạt to bậm. Gạo làm bánh xèo là loại lúa mành màu đỏ chỉ xay bóc vỏ lúa (còn có tên gọi là gạo đỏ, gạo lứt) ngâm nước khoảng 5 tiếng đồng hồ rồi đem xay, dùng môi múc cả nước và gạo bỏ vào cối xay từ từ. Xay được 2 lần cho gạo mịn. Xay xong, bỏ một ít muối, hành hẹ thái nhỏ vào trong thau nước bột gạo. Khuôn tráng bánh cũng do bàn tay người đàn ông Quảng Hòa làm ra, miệng lớn hơn bát ăn cơm một tí, thành khuôn mỏng, cao khoảng 1,5cm, đáy bằng phẳng. Bếp làm có thể tráng một lúc được nhiều khuôn. Bếp thật đỏ lửa mới bỏ khuôn lên, khi tráng bánh chú ý lửa thật đỏ và đều thì bánh mới nở dậy, có hình hoa văn. Khi khuôn đã nóng, dùng môi hay tàu chuối tẩm mỡ chà lên đáy khuôn rồi múc bột gạo tráng lên. Tráng đến khuôn thứ 3 thì bánh khuôn đầu đã chín, cứ lần lượt làm như thế.
Món cá chuối lạ mắt nhất. Nguyên liệu chính là những quả chuối sứ (loại chuối có hạt) chưa già nhưng cũng không non quá. Người ta hái xuống, gọt vỏ, ngâm với phèn hoặc chanh rồi thái nhỏ. Sau đó luộc, uốn hình thù con tôm, con cá. Rồi lấy từng con cá chuối nhúng qua vào bát gia vị. Lúc sắp cá lên dĩa, có thể rưới thêm một ít gia vị có ớt, tỏi. Như vậy trong mỗi lát cá đều thấm gia vị. Khi ăn, lấy bánh xèo cuốn rau sống, nộm, cá chuối lại rồi kẹp vào bánh đa.
Cô Thanh bảo, bánh xèo ăn ngon nhất là lúc vừa tráng xong, tráng tới đâu ăn tới đó. Cầm miếng bánh trên tay, cảm nhận được sự nóng hổi của mùi thơm gạo lứt thì thật tuyệt vời. Ngày trước nhà nào cũng có làm, làm chủ yếu để ăn trong gia đình. Trước khi tôi đi K8, mạ tôi nói: “Để mạ mần cho nồi bánh mà ăn cho đã thèm”.
Theo Báo Thanh Niên
Đặc sản Đẻn biển
20:38
admin
Quảng Bình có thành phố Đồng Hới bên bờ sông Nhật Lệ thơ mộng, hiền hòa với nhiều bãi tắm dọc bờ biển mang nét hoang sơ, ẩn hiện dưới những rặng phi lao xanh êm đềm.
Các nhà hàng dọc con đường nằm sát biển, thoáng, mát, đều phục vụ các loại hải sản của Quảng Bình nhưng ấn tượng nhất vẫn là đặc sản Đẻn biển, ăn một lần sẽ nhớ mãi suốt cuộc đời.
Đẻn có hình dài như con rắn, trên mình có vằn, da rất nhám. Tiết đẻn là “món” đầu tiên, uống vào thấy trong lòng “xao xuyến”. Cắt một chút ở đuôi đẻn để lấy “tiết” cho chảy vào rượu. Hoặc có thể ngâm cả con đẻn vào bình rượu (rượu ngon), ngâm ba đến năm ngày là uống được. Rượu tiết đẻn uống vào có vị hơi chát, ấm, là một loại thuốc chữa được bệnh đau lưng.
Món Ram đẻn mới ngon. Đẻn làm sạch, lấy hết ruột và huyết đen trên sống lưng, bằm cả xương thật nhuyễn, cho các gia vị vào trộn đều, ướp một lúc, lấy ra cho vào bánh đa cuốn thành từng chiếc ram nhỏ, sau đó đưa lên chảo rán đều, mùi thơm không nhịn được.
Đẻn là đặc sản của biển Quảng Bình. Rượu đẻn, ram đẻn là “khoái khẩu” của người dân Quảng Bình. Món ngon đẻn không thể diễn tả hết bằng lời nhưng có thể nói hấp dẫn và không thể quên. Nếu bạn đã một lần thưởng thức sẽ nhớ mãi vị đặc biệt của rượu “tiết” đẻn, hượng vị thơm ngon quyến rũ của ram đẻn. Ngồi bên bờ biển thư giãn giữa trưa hè hay đêm khuya với bạn hiền, chỉ cần mấy ly rượu đẻn, một đĩa ram đẻn còn nóng hổi với những lời tâm tình sâu lắng, đời sẽ vui và thú vị hơn.
Quảng Bình có nhiều điểm du lịch nổi tiếng, đặc biệt là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng – Di sản thiên nhiên thế giới. Mời bạn đến thăm Quảng Bình và nhớ ghé về bờ biển Nhật Lệ thưởng thức đặc sản đẻn biển.
Theo Du lịch Quảng Bình
[Read More...]
Các nhà hàng dọc con đường nằm sát biển, thoáng, mát, đều phục vụ các loại hải sản của Quảng Bình nhưng ấn tượng nhất vẫn là đặc sản Đẻn biển, ăn một lần sẽ nhớ mãi suốt cuộc đời.
Đẻn có hình dài như con rắn, trên mình có vằn, da rất nhám. Tiết đẻn là “món” đầu tiên, uống vào thấy trong lòng “xao xuyến”. Cắt một chút ở đuôi đẻn để lấy “tiết” cho chảy vào rượu. Hoặc có thể ngâm cả con đẻn vào bình rượu (rượu ngon), ngâm ba đến năm ngày là uống được. Rượu tiết đẻn uống vào có vị hơi chát, ấm, là một loại thuốc chữa được bệnh đau lưng.
Món Ram đẻn mới ngon. Đẻn làm sạch, lấy hết ruột và huyết đen trên sống lưng, bằm cả xương thật nhuyễn, cho các gia vị vào trộn đều, ướp một lúc, lấy ra cho vào bánh đa cuốn thành từng chiếc ram nhỏ, sau đó đưa lên chảo rán đều, mùi thơm không nhịn được.
Đẻn là đặc sản của biển Quảng Bình. Rượu đẻn, ram đẻn là “khoái khẩu” của người dân Quảng Bình. Món ngon đẻn không thể diễn tả hết bằng lời nhưng có thể nói hấp dẫn và không thể quên. Nếu bạn đã một lần thưởng thức sẽ nhớ mãi vị đặc biệt của rượu “tiết” đẻn, hượng vị thơm ngon quyến rũ của ram đẻn. Ngồi bên bờ biển thư giãn giữa trưa hè hay đêm khuya với bạn hiền, chỉ cần mấy ly rượu đẻn, một đĩa ram đẻn còn nóng hổi với những lời tâm tình sâu lắng, đời sẽ vui và thú vị hơn.
Quảng Bình có nhiều điểm du lịch nổi tiếng, đặc biệt là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng – Di sản thiên nhiên thế giới. Mời bạn đến thăm Quảng Bình và nhớ ghé về bờ biển Nhật Lệ thưởng thức đặc sản đẻn biển.
Theo Du lịch Quảng Bình
Cá suối nướng Quảng Bình
20:36
admin
Quảng Bình không chỉ được biết đến với nhiều bờ biển đẹp, nhiều danh lam thắng cảnh làm say lòng du khách mà nơi đây còn có nhiều món ăn khiến ai đã từng thưởng thức đều nhớ mãi không quên.
Biển Nhật Lệ đã hào phóng ban tặng cho người dân Quảng Bình nhiều loại hải sản ngon như: tôm hùm, cá ngứa, mực…Trong số đó phải kể đến cá suối, đóng góp vào sự độc đáo của thực đơn đặc sản địa phương.Để làm được món cá suối nướng, người ta chọn loại cá suối khoảng 0,5 kg trở lên, béo và còn tươi sống. Trước khi mổ phải cạo vảy để gia vị ướp ngấm đều vào cá, không mổ cá đằng bụng mà phải mổ đằng dọc sống lưng để khi gấp úp, con cá mềm mại dễ gấp hơn và để phần gia vị nhồi trong bụng cá khi tiếp xúc với than hồng sẽ toả mùi thơm ngấm vào thịt cá. Dao mổ cá phải là dao sắc lẹm, khía thẳng, dứt khoát, không khía nhiều lần gây nát cá. Sau khi bỏ mật cá bắt đầu ướp nhồi gia vị… Người ta dùng gừng, tỏi, sả, hành, rau thơm rừng… để nhồi vào bụng cá.
Cá suối nướng Quảng Bình đặc biệt ở cách nướng. Gấp úp đôi con cá lại, xoa một lớp bột riềng và thính gạo ra ngoài vỏ cá rồi kẹp vào gắp nướng. Sau đó phải nướng cá trên cây củi gỗ núi đá. Nếu nướng trên than cây tre và các loại cây gỗ tạp thì cá không chín vàng đều và không thơm ngon. Người ngồi nướng cá cần phải kiên trì hơ cho con cá chín dần, chín đều, không nóng vội dí sát cá vào bếp lửa cá sẽ cháy sém bên ngoài nhưng chưa đủ độ chín thơm bên trong. Khi gỡ cá ra đĩa, người dân Quảng Bình có sáng kiến dùng sợi chỉ vuốt dọc theo chiều gắp, con cá được gỡ ra vẫn nguyên vẹn, không vỡ nát.
“Bỏ miếng nào phí miếng đó nhé”. Anh bạn tôi vừa nói vừa cho vào bát của tôi một miếng thịt cá suối nướng vàng ươm. Tôi cắn nhẹ một miếng, cá rất mềm, hơi beo béo, không ngán và nhai kỹ càng cảm nhận được vị ngọt. Thú vị không kém khi thưởng thức cá suối nướng với món xôi trắng vừa thơm vừa dẻo, vị cay, vị ngọt của cá, hương vị của các loại rau thơm trộn lan tỏa thật không dễ gì quên được.
Cá suối nướng là một đặc sản níu lòng du khách mỗi khi đến và rời miền gió lào cát trắng.
Theo Tạp chí Ẩm Thực
[Read More...]
Biển Nhật Lệ đã hào phóng ban tặng cho người dân Quảng Bình nhiều loại hải sản ngon như: tôm hùm, cá ngứa, mực…Trong số đó phải kể đến cá suối, đóng góp vào sự độc đáo của thực đơn đặc sản địa phương.Để làm được món cá suối nướng, người ta chọn loại cá suối khoảng 0,5 kg trở lên, béo và còn tươi sống. Trước khi mổ phải cạo vảy để gia vị ướp ngấm đều vào cá, không mổ cá đằng bụng mà phải mổ đằng dọc sống lưng để khi gấp úp, con cá mềm mại dễ gấp hơn và để phần gia vị nhồi trong bụng cá khi tiếp xúc với than hồng sẽ toả mùi thơm ngấm vào thịt cá. Dao mổ cá phải là dao sắc lẹm, khía thẳng, dứt khoát, không khía nhiều lần gây nát cá. Sau khi bỏ mật cá bắt đầu ướp nhồi gia vị… Người ta dùng gừng, tỏi, sả, hành, rau thơm rừng… để nhồi vào bụng cá.
Cá suối nướng Quảng Bình đặc biệt ở cách nướng. Gấp úp đôi con cá lại, xoa một lớp bột riềng và thính gạo ra ngoài vỏ cá rồi kẹp vào gắp nướng. Sau đó phải nướng cá trên cây củi gỗ núi đá. Nếu nướng trên than cây tre và các loại cây gỗ tạp thì cá không chín vàng đều và không thơm ngon. Người ngồi nướng cá cần phải kiên trì hơ cho con cá chín dần, chín đều, không nóng vội dí sát cá vào bếp lửa cá sẽ cháy sém bên ngoài nhưng chưa đủ độ chín thơm bên trong. Khi gỡ cá ra đĩa, người dân Quảng Bình có sáng kiến dùng sợi chỉ vuốt dọc theo chiều gắp, con cá được gỡ ra vẫn nguyên vẹn, không vỡ nát.
“Bỏ miếng nào phí miếng đó nhé”. Anh bạn tôi vừa nói vừa cho vào bát của tôi một miếng thịt cá suối nướng vàng ươm. Tôi cắn nhẹ một miếng, cá rất mềm, hơi beo béo, không ngán và nhai kỹ càng cảm nhận được vị ngọt. Thú vị không kém khi thưởng thức cá suối nướng với món xôi trắng vừa thơm vừa dẻo, vị cay, vị ngọt của cá, hương vị của các loại rau thơm trộn lan tỏa thật không dễ gì quên được.
Cá suối nướng là một đặc sản níu lòng du khách mỗi khi đến và rời miền gió lào cát trắng.
Theo Tạp chí Ẩm Thực
Cá thính Quảng Bình
20:33
admin
Với nhiều người, cá thính có thể là một cái tên lạ. Nhưng với người dân xứ Quảng quê tôi, cá thính là món ăn quen thuộc, là nỗi nhớ khi mỗi mùa cá về.
Cá thính hay còn gọi là mắm thính là một hình thức cá muối mặn rồi ủ với bột bắp rất phổ biến ở các miền quê xứ Quảng. Cá làm thính có thể là cá trích, cá bạc má, cá mòi…, nhưng người quê tôi thường chọn cá nục và cá ngừ loại nhỏ, bởi hai loại cá này thịt săn chắc, tươi, ngon và rất rẻ (thường chỉ 10.000d một ký). Vì vậy hầu như nhà nào cũng ủ cho mình vài hũ cá thính để dành.
Làm cá thính tuy đơn giản nhưng cần sự tỉ mỉ và cẩn thận từ khâu lựa chọn đồ dùng và muối cá. Chọn những con cá nục chạch, mập mạp, sáng bóng hay cá ngừ (bằng ba ngón tay) tươi, ngon, móc bỏ mang, ruột. Dùng nước muối nấu sôi để nguội rửa cá cho sạch, vớt ra để ráo, cho vào hũ sành để muối. Nếu rửa bằng nước lạnh thì khi ủ, cá sẽ ít thơm. Cứ một lớp cá thì rải một lớp muối. Lượng muối phải thật nhiều để đảm bảo độ mặn giúp cá không bị phân hủy và thịt cá săn cứng lại. Hũ cá được đậy kín nắp, ủ trong vòng một tuần cho cá “ăn” muối.
Thính làm cá ngon nhất là loại thính làm từ bột bắp. Bắp được rang trên bếp lửa cho chín, không để lửa quá lớn làm bắp cháy, nhưng nếu lửa nhỏ thì hạt bắp sẽ không vàng và không thơm. Khi hạt bắp vàng, dậy mùi thơm ngát là khâu rang bắp hoàn thành. Bắp được giã nhỏ rồi giần (lọc) lấy những hạt bắp nhỏ bằng hạt tấm. Những hạt bắp này sẽ hút nước tiết ra từ cá, vừa thơm, béo lại bùi, đậm đà, rất lạ miệng.
Cá được lấy ra khỏi hũ sành, ép nhẹ tay cho chảy hết nước và bớt độ mặn. Sau đó, rải một lớp thính dày dưới đáy hũ, đặt một lớp cá lên trên, cứ một lớp cá, một lớp thính. Dùng nan tre cài phía trên giúp cá được ép chặt, bám thính dễ dàng hơn. Đậy kín miệng hũ, ủ cá vài tuần cho đến khi cá bám thính, ánh lên màu vàng nâu, dậy lên hương thơm nồng là có thể dùng được. Cá được bảo quản kỹ, để dành ăn dần quanh năm, đặc biệt là trong những ngày mùa đông lạnh giá hay những ngày mưa gió, chợ đò cách trở.
Nhớ những ngày miền Trung oằn mình trong mưa bão, mẹ lui cui mở cái hũ sành, gắp vài con cá thính ra đĩa, thêm một ít tiêu bột, bột ngọt rồi hấp cho cá nóng. Mẹ phi một ít dầu phụng với hành bằm rưới lên đĩa cá. Món cá thính có vị béo, thơm của dầu, hành phi, cay nhẹ của tiêu, dai và chua nhẹ của cá, giúp mấy bố con tôi no bụng và ấm lòng qua những ngày mưa gió khắc nghiệt nhất của quê nhà.
Cá thính còn được gói trong lá chuối rồi nướng trên bếp than hồng hoặc kho với thịt heo ba chỉ rất ngon. Bột thính dùng để chấm dưa leo hay dưa gang cũng là một món ăn được nhiều người quê tôi ưa chuộng bởi hương thơm nồng nàn và vị mặn đậm đà rất đặc trưng, không thể lẫn vào đâu được.
Theo Viet Choice
[Read More...]
Cá thính hay còn gọi là mắm thính là một hình thức cá muối mặn rồi ủ với bột bắp rất phổ biến ở các miền quê xứ Quảng. Cá làm thính có thể là cá trích, cá bạc má, cá mòi…, nhưng người quê tôi thường chọn cá nục và cá ngừ loại nhỏ, bởi hai loại cá này thịt săn chắc, tươi, ngon và rất rẻ (thường chỉ 10.000d một ký). Vì vậy hầu như nhà nào cũng ủ cho mình vài hũ cá thính để dành.
Làm cá thính tuy đơn giản nhưng cần sự tỉ mỉ và cẩn thận từ khâu lựa chọn đồ dùng và muối cá. Chọn những con cá nục chạch, mập mạp, sáng bóng hay cá ngừ (bằng ba ngón tay) tươi, ngon, móc bỏ mang, ruột. Dùng nước muối nấu sôi để nguội rửa cá cho sạch, vớt ra để ráo, cho vào hũ sành để muối. Nếu rửa bằng nước lạnh thì khi ủ, cá sẽ ít thơm. Cứ một lớp cá thì rải một lớp muối. Lượng muối phải thật nhiều để đảm bảo độ mặn giúp cá không bị phân hủy và thịt cá săn cứng lại. Hũ cá được đậy kín nắp, ủ trong vòng một tuần cho cá “ăn” muối.
Thính làm cá ngon nhất là loại thính làm từ bột bắp. Bắp được rang trên bếp lửa cho chín, không để lửa quá lớn làm bắp cháy, nhưng nếu lửa nhỏ thì hạt bắp sẽ không vàng và không thơm. Khi hạt bắp vàng, dậy mùi thơm ngát là khâu rang bắp hoàn thành. Bắp được giã nhỏ rồi giần (lọc) lấy những hạt bắp nhỏ bằng hạt tấm. Những hạt bắp này sẽ hút nước tiết ra từ cá, vừa thơm, béo lại bùi, đậm đà, rất lạ miệng.
Cá được lấy ra khỏi hũ sành, ép nhẹ tay cho chảy hết nước và bớt độ mặn. Sau đó, rải một lớp thính dày dưới đáy hũ, đặt một lớp cá lên trên, cứ một lớp cá, một lớp thính. Dùng nan tre cài phía trên giúp cá được ép chặt, bám thính dễ dàng hơn. Đậy kín miệng hũ, ủ cá vài tuần cho đến khi cá bám thính, ánh lên màu vàng nâu, dậy lên hương thơm nồng là có thể dùng được. Cá được bảo quản kỹ, để dành ăn dần quanh năm, đặc biệt là trong những ngày mùa đông lạnh giá hay những ngày mưa gió, chợ đò cách trở.
Nhớ những ngày miền Trung oằn mình trong mưa bão, mẹ lui cui mở cái hũ sành, gắp vài con cá thính ra đĩa, thêm một ít tiêu bột, bột ngọt rồi hấp cho cá nóng. Mẹ phi một ít dầu phụng với hành bằm rưới lên đĩa cá. Món cá thính có vị béo, thơm của dầu, hành phi, cay nhẹ của tiêu, dai và chua nhẹ của cá, giúp mấy bố con tôi no bụng và ấm lòng qua những ngày mưa gió khắc nghiệt nhất của quê nhà.
Cá thính còn được gói trong lá chuối rồi nướng trên bếp than hồng hoặc kho với thịt heo ba chỉ rất ngon. Bột thính dùng để chấm dưa leo hay dưa gang cũng là một món ăn được nhiều người quê tôi ưa chuộng bởi hương thơm nồng nàn và vị mặn đậm đà rất đặc trưng, không thể lẫn vào đâu được.
Theo Viet Choice
Con cá trong bữa ăn của người Đồng Hới
20:31
admin
Người Đồng Hới, Quảng Bình sống dọc bờ biển bằng nghề vạn chài nên thường lấy cá làm thức ăn chính trong những bữa cơm. Cá và các thức chế biến từ cá đã đi vào ca dao, tục ngữ, trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực của vùng quê này.Nếu các thành thị lớn thường lấy thịt làm thức ăn chính trong bữa cơm, thì ở Đồng Hới (Quảng Bình) đại bộ phận nhân dân lấy cá làm món ăn chủ yếu.
[Read More...]
Người Đồng Hới thường nói:
- Cơm với cá như mạ với con
- Ngon cá khá cơm
- Vảy cá hơn lá rau
- Con cá đánh ngã nồi cơm
- Đắt cá hơn rẻ thịt…
Sống cuộc đời sông nước, gạo và cá là thực phẩm chính rồi đến rau, củ, sau đó mới là thịt. Từ cá, họ chế biến ra nước mắm. Mắm có thể để đổi lấy ngư cụ hay lương thực để ăn uống hằng ngày.
Hiện nay, đời sống thay đổi nhiều nhưng thức ăn truyền thống của người Đồng Hới vẫn là cá và các sản phẩm chế biến từ cá.
Cá có thể làm thức ăn độc vị, như cá kho, cá nướng, cá luộc, cá rán, cá hấp hoặc kết hợp với rau dưa để làm gỏi, xào nấu, trở thành món ăn cao sang. Theo nguyên lý âm – dương trong ẩm thực, người xưa đã dùng các gia vị với cá mà ca dao ngạn ngữ đã truyền lại đời này qua đời khác:
- Cá bống kho tiêu, cá thiều kho ớt
- Cá thiều mà nấu canh chua
- Một chút dư thừa cũng chẳng bỏ đi
- Muối mè (vừng) rang với ruốc (moi) khô
- Khế rành (1), ruốc lạt (2) đánh bạt thịt heo
- Cá dở (3) thì hấp hành tươi
- Cá ngứa thêm nấm, cá buôi thêm ngò (mùi)
Mỗi loại cá có mùa ngon, mùa dở. Người sành ăn ở Đồng Hới biết chọn cá theo mùa, theo loại:
- Mùa hè cá sông, mùa đông cá biển.
- Cá bớp tháng 3 như thịt ca (gà) tháng 10
- Thiều, chúng (tôm cá) tháng ba
- Ruốc tháng sáu như máu rồng v.v…
Từ con cá, với muối người Đồng Hới chế biến thành nước mắm bổ sung cho bữa cơm đơn giản, và là một sản phẩm hàng hóa quan trọng của nền kinh tế biển.
- Nước mắm không ngon, con mụ (bà) hết khéo.
Khi bữa ăn không có cá, có thịt, thậm chí không có rau, có dưa gì nữa thì người lao động Đồng Hới lấy “cơm – ruốc mắm” làm chủ, và nước mắm Đồng Hới có khi ngon đến “nhức răng” sánh kịp với nước mắm Nam Ô (Đà Nẵng) Phan Thiết, Vạn Phần (Nghệ An) v.v…
Tuy nghèo, nhưng “cơm nước mắm – ớt” cũng đủ thủy hỏa, hàn nhiệt, âm dương, đất nước: cơm thuộc thổ, thổ thuộc dương. Nước mắm thuộc thủy, thủ thuộc âm. ớt thuộc nhiệt, nước mắm thuộc hàn v.v…
Ở Đồng Hới, người xưa đã dùng “nước mắm lâu năm” để chữa bệnh. Các nhà đông y địa phương nói rằng: Nếu suy nhược do thương hàn, tiêu hóa, vị khí trong người bệnh không giao lưu được, sinh chứng “nấc cụt”, có thể dùng nước mắm lâu năm chữa khỏi. Đó là loại nước mắm nguyên chất đem chôn xuống đất sâu càng lâu càng tốt, (có nhà chôn đến 9 – 10 năm) sẽ ôn hòa được các chất mặn, ngọt, béo và sinh ra chất “kích thích”, điều hòa được âm – dương trong người bệnh.
Hơn thế nữa mùa đông gió lạnh, người ta đi biển phải dầm mưa, đội sóng, đội gió, vừa ướt, vừa rét, thường mang nước mắm nguyên chất để uống phòng khi cảm lạnh.
Cùng với nước mắm, người miền biển còn làm mắm từ cá khô nước, lăn với thính ngò rang và ớt bột, ém chặt vào chum, vại, trên mặt hàn kín bằng phên và lá chuối khô, gài tre thật khít, khít đến mức đổ nước muối lên cũng không lọt được xuống đáy vại. Lớp nước muối này là một thứ “gioăng” cách ly không khí và sinh vật bên ngoài không cho xâm nhập vào thức ăn. Do đó, mắm cá có thể để hằng năm vẫn tốt.
Đối với người miền biển Đồng Hới, mắm thay cá trong bữa cơm, thay nước mắm những lúc biển động, và là nguồn thực phẩm cung cấp cho nông dân khi bước vào thời vụ thường thiếu thức ăn.
Bên cạnh con cá biển, Đồng Hới còn có cá sông. Mặc dù ca dao ngạn ngữ Đồng Hới có nói: Mùa hè cá sông, mùa đông cá biển, nhưng cá sông Nhật Lệ về mùa đông, mùa lũ lụt, lại càng ngon.
- Mưa ngàn nước lũ… hề chi…
Cá say nước “bạc” (4) con gì cũng ngon
- Ong hương, hanh múi, ngạnh nguồn (5)
Cá rìa, lệt núi, chẳng nhường thịt heo…
—————————————————-
(1) Khế rành: loại khế vừa ngọt vừa chua
(2) Ruốc lạt: loại mắm tôm suối lạt.
(3) Cá dở: loại cá có tên là dở nhưng cực ngon
(4) Nước bạc: nước lũ
(5) Ong hương, hanh múi, ngạnh nguồn, cá rìa, lệt núi… tên các loại cá.
Cá rìa, lệt núi, chẳng nhường thịt heo…
—————————————————-
(1) Khế rành: loại khế vừa ngọt vừa chua
(2) Ruốc lạt: loại mắm tôm suối lạt.
(3) Cá dở: loại cá có tên là dở nhưng cực ngon
(4) Nước bạc: nước lũ
(5) Ong hương, hanh múi, ngạnh nguồn, cá rìa, lệt núi… tên các loại cá.
Theo Quảng Bình Tourist
Con chép biển
20:29
admin
Chép thuộc họ ngao, hến ở biển. Hình dẹp mà thon, vỏ rất cứng, hoa văn đủ màu sắc trên nền trắng, đầu bụng lớn mà mập, đầu miệng nhỏ mà lép. Con to nhất bằng ngón tay cái, con nhỏ vừa ăn cũng bằng ngón tay út. Chiều dài con chép khoảng 3 cm, chiều rộng khoảng 2 cm. Chép sống ở bãi biển. Người làng biển đợi thủy triều xuống cạn, đi theo bãi biển, cồn cát ven bờ lộ ra dưới chân sóng, dùng hai bàn chân cày xới xuống lòng cát tìm bắt. Con chép sẽ hiện ra cồm cộm dưới bàn chân, thò tay bắt bỏ vào oi, lại tiếp tục cày xới, mãi cho đến khi nước lên ngập bờ mới hết bắt.
Năm nào rét đậm, chép càng béo, càng ngon, cho nên cứ sau tiết đông chí là mùa vụ của chép.
[Read More...]
Năm nào rét đậm, chép càng béo, càng ngon, cho nên cứ sau tiết đông chí là mùa vụ của chép.
Muốn cho con chép sạch cát từ trong lòng nó, khi đem ở bãi về, người ta đổ chép vào một chậu nước muối, với độ mặn giống như nước biển, để yên lặng vài giờ, chép sẽ há miệng ra, lè lưỡi làm chầm bơi lội, thế là bao nhiêu cát trong bụng chép sẽ rơi ra ngoài, lắng xuống đáy chậu. Chỉ cần một động chạm nhỏ ngoài thành chậu hoặc một xao động nhẹ trên mặt nước thì lập tức chép ngậm kín miệng ngay. Lúc đó, chỉ cần vớt chép vào rá, chúng ta sẽ có một rá chép sạch để đưa vào làm món ăn.
Khi lửa trong bếp đã đỏ đều, chúng ta chỉ việc cho mỡ vào chảo, đợi mỡ sôi kỹ, khử hành xong, đổ chép vào, trộn đều và chú ý xem chừng không cho chép chín quá, nứt vỏ ra sẽ mất ngon, và cũng cần nhớ không nên nhiều nước mắm quá vì món chép chiên rất cần nhạt và bản thân con chép đã mặn sẵn rồi. Trước khi bắc chảo xuống cho thêm một ít tỏi và muốn cho chép không bị nứt vỏ, há mồm ra thì phải gạt bớt lửa sau khi trộn chép lần đầu.
Ăn chép chiên với tỏi phải ăn theo lối người miền biển ăn cá nướng trên thuyền giữa biển khơi, nghĩa là phải bắt và bóc vỏ chép bằng cả hai tay.
Vậy là, trên bàn ăn chỉ có một đĩa chép, vài cái khăn lau tay, một cái bát không đựng vỏ chép và có thể có một cốc bia hay vài ly rượu cho đậm đà hương biển.
Bằng hai ngón tay, cầm lấy phía bụng con chép đặt lên môi hút lấy cái nước mỡ bao quanh con chép, chỉ mới chừng ấy đã thấy ngon lành rồi. Tiếp đến, dùng móng tay ngón cái ấn vào giữa hai vỏ chép đang ngậm kín, vừa tách vỏ chép ra vừa hút lấy kỳ hết chất dinh dưỡng đầy ắp trong bụng chép, chúng ta sẽ thấy khoái trá về cái hương vị khó tả, và bạn sẽ bóc mạnh hai vỏ chép ra, ăn lấy phần thân mềm mại trắng nuột của chép, càng nhai càng thú vị: vừa mềm vừa dai, vừa dai vừa bở, bở mà không bấn, béo mà không ngấy, ngòn ngọt, mằn mặn, tưởng như một thứ ngọt mặn của hương trời hơi biển.
Chỉ vài con chép bóc bằng tay như vậy, bạn sẽ nhấp lấy một hớp rượu, hay một hớp bia, chắc chắn bạn sẽ thấy hết cái ý nghĩa của thành ngữ văn hóa ẩm thực: “sơn hào hải vị’’…
Theo Du lịch Quảng Bình
Ruốc tháng sáu
20:27
admin
Con ruốc, người miền Bắc gọi là moi, người trong Nam gọi là con khuyếc, thuộc loại nhuyễn thể. Ở vùng cửa biển Nhật Lệ, ruốc tháng sáu ngon nhất. Ngạn ngữ Đồng Hới nói: “Ruốc tháng sáu là máu rồng”, đó là một cách nói vừa ẩn dụ rằng ruốc tháng sáu quý hiếm vì ít năm ruốc tràn về trong tháng sáu và đối với người Việt chúng ta, cái gì thuộc về rồng, phượng đều mang ý nghĩa tốt, đẹp, hiếm quý; Đồng thời ngạn ngữ nầy cũng mang ý nghĩa là so sánh: ruốc tháng sáu làm ra đỏ như máu rồng. Thế là theo dân gian, ruốc tháng sáu ngon quý về chất, đẹp về màu sắc.
[Read More...]
Mặt khác, đối với ngư dân Đồng Hới, năm nào tháng sáu có ruốc là năm đó sẽ được mùa cá, nhất là nục mộng, một loại cá làm nước mắm tuyệt vời, bởi lẽ ruốc áp lộng đến đâu là cá nục, cá cơm, cá trích… theo ruốc kiếm ăn đến đó, đồng thời vụ ruốc cũng kéo dài đến tháng 8 âm lịch.
Tùy theo luồng ruốc đi trên biển, người ngư dân sử dụng loại lưới nào để đánh bắt mà gọi tên loại đó. Ví dụ: ruốc bắt từ mành dã ở nước 5 – 7 sải, gọi là ruốc dã (hay giạ), ruốc đánh được từ việc kéo lưới bằng đi bộ ven bờ gọi là ruốc kéo, từ việc lặn xuống đáy biển dùng lưới nhỏ mà vớt gọi là ruốc lặn, từ loại vó ở ngoài khơi gọi là ruốc ’’te’’ v.v… và v.v…
Chế biến từ ruốc tươi ra thành phẩm ruốc ăn, gọi là ruốc quết, thường qua mấy công đoạn đơn giản như sau:
- Muối ruốc vào vại, chum. Muốn để lâu, khỏi sợ hư hỏng thì phải muối mặn, ví như một bát muối thì 5 hay 3 hay 6, 7 bát ruốc, tùy người muối. Muối ăn vội, cho ruốc ngon ngọt thì muối lạt, ví như một bát muối phải 10 bát ruốc, thậm chí gặp nắng tốt, có khi 12, 15 bát ruốc. Càng lạt, ruốc càng ngon, nhưng càng dễ thối.
- Muối xong để một đêm, hoặc một buổi, đem vắt kiệt con ruốc. Lúc này xác ruốc bấn thành bột như bã bột sắn. Vắt (càng kiệt càng tốt) thành nắm tròn.
- Xác ruốc vắt được xát nhỏ bằng đôi bàn tay ra nong, ra nia rồi phơi thật khô, đồng thời cũng phơi cả nước ruốc vắt được. Phải hết sức chú ý làm sao cho thật sạch cát. Đó là một khâu vô cùng quan trọng. Do vậy nên trước khi vắt ruốc muối thành nắm để phơi, người ta phải chao cho thật sạch cát đã mới vắt, và khi nước ruốc đã gạn, lọc kỹ hết cát rồi, phải vừa phơi vừa giữ cho khỏi cát và bụi bặm. Hồi xưa khâu ấy là rất khó, còn bây giờ, người ta phơi nước ruốc rất văn minh, nghĩa là người ta dùng kính đậy, vừa sạch vừa tăng độ nhiệt.
- Ruốc phơi khô rồi, đem đâm mịn, càng mịn càng tốt. Đâm xong, bỏ bột ruốc vào những vại nước ruốc, quấy đều rồi phơi nắng. Hàng ngày, sáng sớm, đảo một lần, khi nào nghe ruốc bốc mùi thơm, nước mắm ngập lên mặt, ấy là đã ăn được.
Những loại ruốc lạt, thường được dùng như thức ăn hoàn chỉnh không qua khâu nấu nướng gì nữa. Những thứ ruốc mặn để lại hàng năm, thứ này thường để thay bột ngọt trong việc nấu nướng.
Trong bữa cơm của người lao động Đồng Hới khi nào cũng có món ruốc lạt, ăn với khế rành, loại khế vừa ngọt vừa chua. Đó là một món ăn rẻ tiền nhưng lại có sức quyến rủ rất kỳ lạ. Ruốc ăn không với cơm! Hoặc cà với ruốc, hoặc thịt lợn luộc chấm ruốc, ăn với bún, với bánh đúc, đều là những món ăn tuyệt trần của ruốc đối với người nghèo Đồng Hới.
Tuy nhiên, không phải chỉ người nghèo ít tiền, ít phương tiện chế biến thức ăn mới dùng ruốc làm món chủ lực mà đến cả người giàu sang, cả các quan lại cao cấp và cá biệt còn cả người Pháp cũng mê ruốc lạt.
Bên cạnh ruốc còn có nước mắm ruốc. Muốn lấy nước mắm ruốc thì khoét một lỗ bằng cái bát (hoặc nhận cái bát vào) giữa bề mặt vại chỉ vài giờ sau sẽ có một nửa bát nước mắm. Nước mắm ruốc tuy không ngon thơm như nước mắm cá, song ngọt và đậm đà hơn nước mắm cá, và nó cũng là món ’’đặc sản’’ trong khoa ẩm thực của những người sành ăn ở Đồng Hới.
Theo Du lịch Quảng Bình
Tương Nam Đàn
20:25
admin
Tương là món ăn rất đỗi thân quen trong cuộc sống hằng ngày của người nông dân:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương…
Nam Đàn là một trong ba vùng làm tương ngon nổi tiếng cùng với tương Bần (Hưng Yên) và tương Cự Đà (Hà Tây).
Ở Nam Đàn và cả Nghệ An, hầu như nhà nào cũng có một hũ tương. Nhiều nhà biết làm tương, nhưng những người thành thạo, có bí quyết để làm ra những chum tương đặc sản Nam Đàn, thì không còn nhiều. Kinh nghiệm làm tương được các bà, các mẹ ở Nam Đàn truyền cho con gái như một chút vốn cho cuộc sống mai này.
Để có được chum tương ngon, người ta cẩn thận lựa chọn từng cái chum. Chum được nung chín đều, men láng bóng, đổ nước ngâm thử ba, bốn ngày, đem úp miệng chum xuống đất. Đậu nấu tương phải chọn loại đậu mới, đều hạt và có lẽ chỉ giống đậu tương xuân trồng tại Nam Đàn mới cho những chum tương ngon nhất. Nước dùng để nấu tương, cũng kén như loại nước để nấu chè xanh. Gạo nếp thổi xôi làm mốc, muối dùng làm mặn cho tương đều phải lựa chọn kỹ càng. Lúc rang, lúc ủ đậu, khi nấu ngả tương, khi phơi và đánh tương… đều phải có bí quyết, kinh nghiệm, chọn nắng để phơi tương… Ai dám bảo làm tương không lắm công phu. Tương Nam Đàn, tương xứ Nghệ dễ mấy ai quên khi đã một lần thưởng thức.Tương Nam Đàn được biết đến như một công trình nghệ thuật của người phụ nữ Nghệ. Món tương nổi tiếng không chỉ ở Nghệ An mà còn rộng khắp cả nước. Nó là một thực phẩm dùng làm nứoc chấm rất phổ biến trong các bữa ăn của người dân.Từ thứ thức chấm này đã chế biến được nhiều món ăn dân dã đậm đà như: Cá kho tương,rau chấm tương, nhút chấm tương…
Để làm một hũ tương, người dân nơi đây đã thể hiện rất nhiều sự khéo léo từ khâu chọn đỗ tới khâu làm mốc tương. Đỗ phải là đỗ xanh vụ mùa Xuân Hè của vùng Nam đàn, hạt đều và chắc. Mốc tương được chế biến từ nếp hoặc ngô hông chín , rải ra rồi dùng lá nhãn ủ cho tới khi lên mốc mới đưa ra phơi nắng.Đậu tương được rang chín thơm lừng và với đôi tay khéo léo cùng một chút bí quyết gia truyền của người dân Nam Đàn đã thành công với một món ăn hết sức dân giã, nguyên liệu chủ yếu từ nông sản thôn quê.
Đó cũng là niềm tự hào của người dân nơi đây khi du khách bốn phương háo hức tìm gửi mua bằng được được một hũ tương về làm quà.
Tương Nam Đàn độc đáo, khác hai loại tương kia ở chỗ nó là “tương mảnh”, hạt đậu làm tương chỉ xay vỡ thành “mảnh đậu” chứ không “nát như tương Bần”. Chai tương Nam Đàn không có mầu nâu như tương Bần, mà vàng sánh như mật ong. Những mảnh đậu lơ lửng trong nước tương đặc quánh, thơm và ngọt lịm. Chỉ nhìn thôi cũng thấy hấp dẫn. Dù lượng muối bỏ vào làm tương không ít, nhưng vị đậm đà của muối biển đã chìm đi, nhường chỗ cho hương vị của thứ nước chấm đặc sắc.
Ở Nam Đàn và cả Nghệ An, hầu như nhà nào cũng có một hũ tương. Nhiều nhà biết làm tương, nhưng những người thành thạo, có bí quyết để làm ra những chum tương đặc sản Nam Đàn, thì không còn nhiều. Kinh nghiệm làm tương được các bà, các mẹ ở Nam Đàn truyền cho con gái như một chút vốn cho cuộc sống mai này.
Để có được chum tương ngon, người ta cẩn thận lựa chọn từng cái chum. Chum được nung chín đều, men láng bóng, đổ nước ngâm thử ba, bốn ngày, đem úp miệng chum xuống đất. Đậu nấu tương phải chọn loại đậu mới, đều hạt và có lẽ chỉ giống đậu tương xuân trồng tại Nam Đàn mới cho những chum tương ngon nhất. Nước dùng để nấu tương, cũng kén như loại nước để nấu chè xanh. Gạo nếp thổi xôi làm mốc, muối dùng làm mặn cho tương đều phải lựa chọn kỹ càng. Lúc rang, lúc ủ đậu, khi nấu ngả tương, khi phơi và đánh tương… đều phải có bí quyết, kinh nghiệm, chọn nắng để phơi tương… Ai dám bảo làm tương không lắm công phu. Tương Nam Đàn, tương xứ Nghệ dễ mấy ai quên khi đã một lần thưởng thức.Tương Nam Đàn được biết đến như một công trình nghệ thuật của người phụ nữ Nghệ. Món tương nổi tiếng không chỉ ở Nghệ An mà còn rộng khắp cả nước. Nó là một thực phẩm dùng làm nứoc chấm rất phổ biến trong các bữa ăn của người dân.Từ thứ thức chấm này đã chế biến được nhiều món ăn dân dã đậm đà như: Cá kho tương,rau chấm tương, nhút chấm tương…
Để làm một hũ tương, người dân nơi đây đã thể hiện rất nhiều sự khéo léo từ khâu chọn đỗ tới khâu làm mốc tương. Đỗ phải là đỗ xanh vụ mùa Xuân Hè của vùng Nam đàn, hạt đều và chắc. Mốc tương được chế biến từ nếp hoặc ngô hông chín , rải ra rồi dùng lá nhãn ủ cho tới khi lên mốc mới đưa ra phơi nắng.Đậu tương được rang chín thơm lừng và với đôi tay khéo léo cùng một chút bí quyết gia truyền của người dân Nam Đàn đã thành công với một món ăn hết sức dân giã, nguyên liệu chủ yếu từ nông sản thôn quê.
Đó cũng là niềm tự hào của người dân nơi đây khi du khách bốn phương háo hức tìm gửi mua bằng được được một hũ tương về làm quà.
Chả rươi
20:20
admin
Rươi xứ Nghệ là đặc sản quý hiếm, đậm đà hương vị quê hương. Hàng năm, hễ đến cữ “tháng chín, đôi mươi, tháng mười mồng năm” thì có rươi, nếu theo con nước có thể xê dịch trước sau dăm ba ngày. Dịp mùa rươi, các gia đình hay be bờ ruộng, nước triều lên ngập cánh đồng, lúc triều rút, mang rổ ra hứng ở cuối ruộng có thể được vài ba thúng.Có hai loại rổ để hứng, rổ thưa ở trên đón rác, rươi chui xuống rổ dày phía dưới nên khá sạch. Con rươi lúc mới hớt màu xanh nhạt, sau chuyển sang mầu hồng, lúc rươi ươn hỏng, chuyển sang màu xanh sẫm.
[Read More...]
Ngày nay, mỗi độ thu về, các bà con trong xóm rủ nhau đi chợ mua rươi. Người bán bao giờ cũng đong bát rươi đầy ắp lên như để khoe những con rươi trên mặt to mọng, sắc hồng tươi rói.
Rươi có thể được chế biến thành nhiều món ngon, nhưng hấp dẫn hơn cả là món chả rươi. Làm món chả rươi cần bốn quả trứng, 200g thịt nạc, băm nhỏ, 200g rươi, hành hoa, thìa là, vỏ quýt tươi. Rươi phải nhặt sạch rơm rác, đổ nước sôi vào trần cho sạch ***g, để ráo nước. Trộn rươi với trứng, vỏ quít thái chỉ và các thứ gia vị trên, đánh thật nhuyễn. Rán trong chảo mỡ đang sôi, nhỏ lửa để rươi chín đều, thơm mà không bị cháy. Rán vàng cả hai mặt, rắc hạt tiêu, ăn nóng, có thể rán chả to như chiếc đĩa tây, khi ăn thì cắt miếng, hoặc rán từng cái nhỏ như miệng chén uống nước.
Rươi ngọt, béo ngậy có mùi vị riêng và được nâng lên nhờ hòa quyện với mùi vỏ quýt. Tài tình thật, cứ đến mùa rươi là mùa quýt chín. Chả rươi ăn xong, còn thèm cũng phải đợi đến mùa thu năm sau mới gặp lại.
***
Món chả rươi
Hàng năm, khoảng cuối tháng chín, đầu tháng 10 là những ngày cữ nước rươi (theo âm lịch) thì có rươi. Nếu theo con nước thì xê dịch năm bảy ngày. Ở Vinh và vùng phụ cận có cánh đồng của Hưng Hoà (Vinh), Hưng Châu (Hưng nguyên), nước hơi lợ, dịp triều cường của con sông Lam thì rươi chui lên mặt nước.
Đến mùa rươi, chờ nước triều lên ngập bờ, lúc triều rút mang rổ ra hứng thì được đến vài ba thúng. Rươi là thức ăn nhiều đạm. Có thể chế biến thành món ăn ngon như: rán với trứng gà (gọi là chả rươi), canh rươi, muối rươi (mắm rươi)…. Ở quê sẵn rươi, người ta có thể phơi khô để ăn dần.
Muốn chế biến, rươi phải thật sạch rơm rác, rồi làm ***g bằng cách đổ nước sôi vào chần rươi cho sạch. Để ráo nước rồi lấy đũa đánh xáo rươi thật nhuyễn. Làm món chả rươi cần khoảng 3 quả trứng, 200 gam thịt lợn nạc, 200 gam rươi, lá gừng, hành hoa, thì là, vỏ quýt. Trộn rươi với trứng, vỏ quýt thái chỉ, thì là thái nhỏ, thịt nạc băm nhuyễn, mấy thìa nước mắm ngon, hạt tiêu. Tất cả đánh nhuyễn, đổ vào dầu nóng già, đun nhỏ lửa. Khi chả chín, mang ra đĩa, dùng dao cắt thành miếng là thành món chả rươi.
Chả rươi có vị ngọt đậm đà, béo ngậy, có mùi vị riêng được nâng lên nhờ hoà quyện với mùi vỏ quýt. Tạo nên hương vị quê hương đặc trưng của thành Vinh – xứ Nghệ .
Báo Nghệ An
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



























