Phở khô Gia Lai



Phở khô Gia Lai dùng thịt bò trần và nạc heo băm nhỏ. Phở ăn kèm tương và sa tế rất hợp vị. Người Gia Lai xem món phở khô như một phần không thể thiếu trong nét văn hóa ẩm thực của nơi này.
Phở khô là sự kết hợp của hai nguyên liệu: thịt heo và bò trong cùng một món ăn. Để có nước lèo trong, ngọt, người ta nấu xương heo và bò trong nồi nước lèo và phải giữ lửa liu riu khoảng 5-7 giờ để ninh xương thì nước lèo mới ngọt đậm, và phải canh hớt bọt liên tục.

Thịt của phở khô là thịt bò non hoặc thịt bê. Thịt được thái mỏng, trụng thật nhanh qua nước lèo rồi cho vào chén nước, đây là phần nước dùng của phở. Còn thịt nạc heo băm nhuyễn được cho vào tô trên mặt của bánh phở đã trụng cùng với hành phi. Rau ăn chung với phở khô là xà lách, cần và rau quế.

Tô phở khô được dọn lên, ngoài chén nước dùng, các loại rau, còn một gia vị không thể thiếu là tương xay và sa tế. Tương có vị vừa mặn nhưng vẫn có chút ngòn ngọt của đậu được lên men. Cho tương vào tô, trộn đều với bánh phở, thêm tí sa tế để thêm vị thơm, cay. Vị ngọt của miếng thịt bò non mềm cùng vị ngọt của nước dùng cứ hòa lẫn, càng làm cho món ăn trở nên hoàn thiện. Hương vị của phở khô khác hẳn với phở xào, áp chảo, còn nước dùng của nó khác với món phở Bắc truyền thống. Ở thành phố, được thưởng thức một món đặc sản của vùng Tây Nguyên cũng thú vị.
[Read More...]


Canh thụt – món ngon của người Mnông, Đắc Lắc



Nhắc đến văn hoá ẩm thực của đồng bào dân tộc Mnông, người ta thường nghĩ ngay đến những món ăn quen thuộc như: Cơm lam, thịt gà nướng, thịt hun khói, đọt mây… nhưng có một món ăn còn ít người biết tới, đó là canh thụt.
Chuẩn bị nguyên liệu để nấu canh thụt
Theo nhiều già làng kể lại, món ăn này có từ rất xa xưa. Khi lên rẫy, bà con có thói quen dùng bữa trưa ngay tại rẫy để tranh thủ thời gian lao động, nên tìm cách cho gạo và thức ăn vào ống tre để nấu, vừa thuận tiện lại vừa thơm ngon.

Ngày nay, mỗi khi mùa lễ hội đến hay vào dịp đón khách quý, những thiếu nữ Mnông phải lên rừng trước một ngày tìm nguyên liệu để làm canh thụt. Bây giờ ở nhiều nơi, người dân đã bán những nguyên liệu này. Ít nhất, có 10 loại nguyên liệu như: da bò khô, lá nhíp, cà đắng, đọt mây, ớt xanh… được dùng để chế biến canh thụt.
Đầu tiên, da bò khô sẽ được nướng cho mềm, đọt mây sẽ được tước vỏ và bẻ thành từng đoạn nhỏ, lần lượt các nguyên liệu sẽ được cho vào một ống để đun. Trước kia, người dân thường dùng cây lồ ô để làm ống đun canh thụt, nay ống bằng kim loại đã được sử dụng nhiều hơn.
Thưởng thức món ăn đặc sản này, thực khách sẽ cảm nhận được mùi vị rất đặc trưng. Không những thế, đó còn là cách để hiểu rõ hơn về Tây Nguyên không chỉ qua giá trị văn hoá, mà còn cả nghệ thuật ẩm thực.
Theo VTV
[Read More...]


Cá bống kho riềng – đặc sản ẩm thực Đắc Lắc



Cá được mang lên, còn tươi nhảy lao xao, con nào con ấy bé tròn, họ xả cho sạch nhớt trên mình và bỏ vào ít muối ướp cho cứng lại, sau đó đi đào lấy ít riềng rửa sạch giã nhỏ. Bây giờ chỉ còn việc bắc chảo cho nóng, và cho vào đó ít dầu ăn, hay mỡ đun cho sôi lên, cho cá vào chiên vàng, đổ riềng đã chuẩn bị sẵn. Mùi riềng, mùi cá bốc lên thơm ngào ngạt…

Ðến với Đăklăk là đến với những cánh rừng đại ngàn cùng những đồi, núi, dốc đèo chập chùng, vẻ hùng vĩ uy nghi của nó đã làm nhiều người mới đến lần đầu cảm thấy ớn lạnh. Nhiều người lầm tưởng nơi đây quanh năm suốt tháng người dân chỉ biết ăn cá khô từ các tỉnh đồng bằng mang lên. Nhưng thực chất nơi đây có nhiều món ăn thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống.
Đến với Đăklăk bạn không chỉ được ngắm thắng cảnh của một vùng rừng mà bạn còn được thưởng thức những lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc cùng những món ăn dân dã mang đậm hương vị của núi rừng Tây Nguyên. Món cá bống thác kho riềng là một món ăn có tính truyền thống của người dân tộc nơi đây. Cá bống là loại rất phổ biến, nó sống trong các kênh rạch, ao hồ, sông suối nơi đâu cũng có, nhưng cá bống Tây Nguyên thì lại khác, nó sống ngay trong dòng thác đổ. Các con thác Tây Nguyên ngày đêm gầm rú hòa vào âm sắc của núi rừng Tây Nguyên đại ngàn những bản hòa tấu vang động. Trong dòng thác đó tưởng như không còn loài sinh vật nào có thể sống được. Vậy mà cũng Åcó loài chỉ sống nơi những ngọn thác đổ ào ào, đó là cá bống thác. Loại cá này chỉ thích nghi với môi trường nước đổ từ cao xuống, mình bé và trắng, thân tròn săn chắc như ngón tay. Nó không sống được nơi nước lặng có bùn như loại bống mủn, bống mít dưới đồng bằng.
Tháng ba nắng gió Tây Nguyên gắt gao hơn, các con thác vơi nước bớt đi vẻ oai hùng thì cũng là lúc các cư dân người dân tộc thiểu số nơi đây bắt đầu công việc dọn nương để chuẩn bị mùa rẫy mới. Hành trang trên đường đi rẫy, họ chỉ cần ít gạo và dụng cụ nấu ăn, còn thức ăn sẽ đi xuống những thác nước lấy rổ luồn vào khe đá những chỗ nước chảy xiết để bắt loại cá này. Cá được mang lên, còn tươi nhảy lao xao, con nào con ấy bé tròn, họ xả cho sạch nhớt trên mình và bỏ vào ít muối ướp cho cứng lại, sau đó đi đào lấy ít riềng rửa sạch giã nhỏ. Bây giờ chỉ còn việc bắc chảo cho nóng, và cho vào đó ít dầu ăn, hay mỡ đun cho sôi lên, cho cá vào chiên vàng, đổ riềng đã chuẩn bị sẵn. Mùi riềng, mùi cá bốc lên thơm ngào ngạt, đợi riềng và cá quyện vào nhau, lúc này họ mới cho mắm muối và các gia vị: hành, tiêu, ớt, đường và bột ngọt tạo độ vừa ăn.
   Mùa làm rẫy nắng nóng người làm rẫy về trưa đã thấm mệt. Mùi thơm của cá bống thác kho riềng bốc lên thơm ngào ngạt làm cồn cào cái dạ dầy mà suốt sáng tới giờ nó đã phải làm cái việc chuyển hóa năng lượng, nhắc nhủ họ tìm đến những gốc cây kơnia gần đó để dùng bữa trưa đạm bạc mà thanh nhã. Cơm gạo lúa rẫy chín tới, cá bống thác kho riềng vừa xong, mùi hương của cơm, của cá quyện vào nhau thơm đến lạ lùng, chỉ núi, rừng Tây Nguyên mới có được. Bới chén cơm gắp con cá, và vào miệng cá bống thác giòn tan, thấm vị giác, mùi thoảng lên khứu giác thật là một cảm giác khó quên trong những ngày làm rẫy. Cơm đó, cá đó ăn với canh cà tím quả tròn, nhỏ mọc ven suối thật là món ăn quê nhưng lại không đâu có. Cơm trưa xong, nghỉ mát dưới bóng cây kơnia, cái gió Tây Nguyên làm vơi bớt cái nắng như thiêu như đốt làm cho người làm rẫy chìm vào giấc nghỉ trưa thanh bình và cái mệt nhọc của một buổi lao động nhờ đó cũng tan đi.
Theo Saigonnet
[Read More...]


Rượu cần đặc sản Đắc Nông



Trường Sơn cao ngất rừng xanh
Quây quần hũ rượu, Thượng – Kinh chung cần
Trong bất cứ lễ, tết nào, đồng bào Tây Nguyên cũng đều có nghi thức uống rượu cần. Rượu, theo họ tin tưởng, là do Trời (Yang) sai thần linh xuống trần dạy cho con người cách làm rượu đủ loại: từ gạo, mì, bắp cho đến bo bo, kê…để tế lễ các đấng tối cao trong năm.
Rượu Ba Na được các dân tộc ở Tây Nguyên khen là ngon nhất, sau đó mới là rượu của người Ê-đê và Xơ-đăng.
Rượu cần Tây Nguyên uống bằng cần. Rượu cần có nhiều thứ, ngon hay dở là do ở người làm cũng như các hợp chất có được đầy đủ hay không. Hiện nay, rượu cần không chỉ dành riêng cho các đồng bào Tây Nguyên, mà họ thường chế tạo, cất thành từng ghè (ghè hay ché là loại hũ cao để đựng rượu) chở đi bán tại các làng miền xuôi. Cho nên, người Kinh chúng ta nay cũng “khoái” uống rượu cần trong các tiệc tùng linh đình hay lễ, tết.
Uống rượu cần thể hiện sự đoàn kết, thương yêu không có chuyện chén chú, chén anh, chén ông, chén bác… Mọi người cùng uống với nhau chung cần, trẻ, già, trai, gái nhâm nhi thịt trâu nướng mà không sợ mất vệ sinh.
Làm rượu cần rất đơn giản. Chỉ cần bỏ men vào cơm ủ trong ché (ghè) độ bốn năm hôm là thành rượu. Lúc nào uống thì đổ thêm nước lã vào chứ không cất như rượu đế. Rượu để lâu ngày càng ngon. Có người đem chôn rượu ở dưới đất hàng năm cho rượu hả hơi mới đem lên uống.
Rượu cần có nhiều loại. Rượu thóc là lúa mới xay, rửa cho sạch, ngâm nước rồi trộn men để bỏ vào ché. Lấy lá chuối bịt chặt miệng ché độ năm, sáu hôm sau là dùng được. Rượu cơm là rượu làm bằng gạo nấu thành cơm ủ với men; hoặc là trộn đều bỏ vào ché; hay bỏ một lớp cơm, một lớp men cũng được. Cơm rượu chỉ độ vài ba hôm là nở tràn ché. Còn rượu kê, bo bo, bắp, mì, v.v… thì cũng làm theo cách trên.
Đồng bào Ba Na gọi rễ cây men là Hiam. Rễ này cùng với gừng, ớt được giã nhỏ, trộn với gạo rồi viên thành viên nhỏ. Hoặc lấy rễ dây men – loại dây có gai bò trên mặt đất giống như dây trầu – đem phơi khô, giã nhỏ với củ riềng hay củ gừng rồi cũng viên thành từng viên lớn như quả trứng gà so. Mỗi ché chỉ bỏ độ một viên men là đủ.
Đến lúc uống mới đem cần cắm vào ché. Cần uống thường làm bằng cây trúc hay cây triêng. Cuốn cây triêng thường dài cả mét, chặt đem về phơi khô, rút lõi bỏ đi, dùng làm cần rượu thì tuyệt!
Rượu cần tuy nhẹ, dễ uống, nhưng uống nhiều, khách dễ bị đau đầu và có thể ngã lăn quay lắm…
[Read More...]


Đặc sản Cá Lăng nướng than




Trong các món đặc sản của núi rừng, nhiều du khách rất thích món cá lăng nướng than hồng. Người dân ở đây thường bọc cá lăng trong một loại lá rừng rồi mới đem nướng. Cá lăng được đánh bắt từ dòng sông Sêrêpôk, thịt cá không chỉ ngọt mà còn dai và thơm phức. Thêm một ống cơm lam, một đĩa gà nướng là bữa ăn của bạn đã mang đậm “chất” đại ngàn.
Cá lăng nướng
Thơm ngon hương vị cá lăng
Cá lăng (tên khoa học là Hemibagrus elongatus) là tên gọi một loài cá trong họ Cá lăng, bộ Cá da trơn. Cá lăng là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất, trong tự nhiên đã bắt được những con từ 40 – 50 kg. Đây là một loài cá không có xương dăm, thịt rất ngon nên rất được ưa chuộng. Ở Hà Nội, từ xa xưa đã nổi tiếng món chả cá Lã Vọng… Ở Đắk Nông, cá lăng có nhiều trên sông Đồng Nai, sông Sêrêpốk… và hiện có mặt ở hầu hết các Nhà hàng lớn tại thị xã Gia Nghĩa, huyện Chư Jút, Krông Nô, Đắk Glong…

Chả cá lăng chín vàng nổi màu men cánh gián chỉ nhìn thôi đã thấy hấp dẫn
Dưới đây xin giới thiệu một số món chế biến từ cá lăng mà thực khách hai miền Nam – Bắc ưa dùng, đó là chả cá lăng, cá lăng om chuối và cá lăng nướng.
Để có miếng chả cá thơm ngon, nhà hàng phải kén những con cá lăng đen khỏe, vừa chắc thịt, ít xương lại ngọt. Cá được lọc bỏ sạch da và xương, thái miếng khuôn hoặc hình chữ nhật rồi tẩm ướp gia vị gồm nước cốt của riềng, nghệ quyện với mẻ, mắm tôm, nước mắm trong khoảng 1 giờ. Khi gia vị đã ngấm sâu vào từng thớ thịt của cá, xếp từng miếng cá vào vỉ, sau đó phết một lớp dầu và nướng trên than hoa. Người đầu bếp phải nhanh tay lật giở cho đến khi nghe thấy tiếng xèo xèo của mỡ, cá chín vàng nổi màu men cánh gián, dậy mùi thơm thơm của thịt, của mẻ, ấy là lúc có thể lấy ra thưởng thức. Mắm tôm được lựa chọn rất kỹ, phải là loại mắm cá chất lượng tốt nhất, dậy mùi thơm và phải ngọt đậm đà. Khi ăn kèm với hành, thì là, một chút lạc rang sẽ cho ta một vị đặc trưng.
Món cá lăng nướng cũng tuyệt vời không kém. Khi những viên thịt cá nướng thơm ngậy, vàng rộm được xếp lên đĩa, nổi bật giữa màu xanh của chuối, rau thơm và bát nước chấm sóng sánh đủ sắc, chỉ nhìn thôi cũng thấy ngọt lịm nơi đầu lưỡi rồi. Đặt một miếng cá lăng lên bánh cuốn có sẵn rau sống, lát chuối xanh, khế, dứa, bún cuộn lại chấm nhẹ trong bát mắm đủ vị của tỏi, chanh, ớt đường pha vừa miệng. Tất cả cứ lan tỏa dần trên đầu lưỡi. Vừa ăn, vừa nhâm nhi một chút rượu mạnh cùng cà kê với bạn bè, gia đình thì còn gì thú vị bằng!
Cá lăng nướng ăn kèm bún, rau sống, chuối xanh..
Nếu bạn muốn tìm cho mình một mùi vị thơm ngon của nước dùng, cá lăng om chuối là một lựa chọn thú vị. Màu đặc quánh ánh vàng của nước om, vị béo ngậy của miếng thịt ba chỉ quyện trong vị ngọt của cá lăng và mềm thơm của từng khoanh đậu, khoanh chuối khiến bạn khó có thể cưỡng lại. Để giữ được sự tinh túy và hương vị đặc trưng của món ăn lạ miệng ấy, tất cả phải được chuẩn bị công phu và tuân thủ theo một quy trình chế biến nghiêm ngặt theo công thức bí truyền của nhà hàng.
Không chỉ cầu kỳ trong khâu chế biến, món cá lăng om chuối cũng đòi hỏi sự tinh tế của người biết thưởng thức. Chầm chậm hít hà, húp những thìa nước dùng nóng hôi hổi để cảm nhận trước tiên vị thanh ngọt của món, rồi để hồn mình tan dần theo mỗi miếng cá thơm trong miệng, lâng lâng mùi mẻ quanh quẩn khắp chân răng mới thấy được cái tinh tuý trong thế giới ẩm thực của nơi đây.
Cá lăng om chuối
Ngoài ra, thực khách phía Nam ưa món lẩu cá lăng, còn ở Đắk Lắk, Đắk Nông thì đặc sắc mà dân dã nhất là món lẩu cá lăng nấu lá dang. Đây là loại cây họ dây leo, mọc trong rừng, lá có vị chua thanh, khi nấu với cá, nó làm thịt cá chắc và không còn mùi tanh của cá.
[Read More...]


Cá chua Tây Nguyên



Người Tây Nguyên sống chân thật, mộc mạc, nên các món ăn chế biến cũng giản đơn. Nguồn thực phẩm không dồi dào, chủ yếu dựa vào tự nhiên nên mỗi khi săn bắt được thú rừng, được con cá… bao giờ cũng nghĩ cách để dành cho ngày hôm sau như phơi khô, sấy khô, treo gác bếp… Ðặc biệt là chế biến món cá chua. Thức ăn này để càng lâu càng ngon. Ðây là món ăn đặc sản Tây Nguyên.

Cách làm món cá chua thật dễ dàng. Trước hết cần chọn loại cá niệng để chế biến – Cá niệng trông hơi giống cá trôi nhưng mình dẹt có nhiều ở vùng sông suối Tây Nguyên. Cá được đánh hết vẩy, bỏ ruột, bóc mang và rửa sạch, cắt thành khúc nhỏ dày chừng 2 phân đến 3 phân, để trước gió cho ráo nước. Khi cá se khô, bắt đầu trộn đều với muối, ớt, lá bép (tức cây mì chính) thính ngô (được giã nhỏ mịn). Trộn đều xong cho vào ống nứa hay ống lồ ô khô, sạch, nút thật kín, chặt rồi gác lên dàn bếp hoặc dưới mái nhà, chỉ sau vài ngày là có thể ăn được. Cá chua để càng lâu ăn càng ngon vì miếng cá sắt lại nhờ các gia vị đã thấm sâu vào thịt cá làm cho người ăn thấy vị mặn của muối, vị cay của ớt rừng, vị ngọt đầm của lá bép, vị thơm của thính ngô và vị chua do hỗn hợp này đã được lên men…
Người Tây Nguyên mến khách. Nếu có dịp về Tây Nguyên chắc bạn sẽ được mời thưởng thức món đặc sản này
Nguồn: saigontoserco
[Read More...]


Gỏi lá Kon Tum



Tôi sinh sống và làm việc đã gần hai chục năm nay trên mảnh đất cực bắc Tây Nguyên, đã nghe nói thật nhiều về món ăn “có một không hai” – đó là món gỏi lá Kon Tum, thú thực đây là lần đầu tiên tôi mới có dịp được thưởng thức món ăn độc đáo này, quả là “danh bất hư truyền”…
Trước mặt chúng tôi là một cái bàn rộng bày la liệt hàng chục loại lá rừng xanh non mơn mởn trông thật bắt mắt. Trước khi “ăn lộc” rừng và thưởng thức món ăn, chị chủ quán Lê Thị Oanh cho biết, món gỏi này có tới 60 loại lá khác nhau. Đang giữa mùa khô Tây Nguyên, mà các loại lá rừng hầu như không thiếu một loại nào. Những loại lá có mặt trong món này được chọn theo tiêu chuẩn: hương vị phải có đủ bốn vị chính là: chua, cay, đắng, chát…
Trong “rừng lá” này chúng tôi chỉ nhận mặt được một vài loại lá quen thuộc như: đinh lăng, lá sung, xoài, ổi, cóc, lá vừng, lá bứa, ngũ gia bì, lá hồng ngọc, húng hắng, lá mơ, diếp cá, tía tô, kinh giới, cải xanh… còn mấy chục loại lá khác thì chịu. Gỏi lá được dọn ăn kèm với thịt cá lóc, cá trắm cỏ, cá chép, thịt heo ba chỉ luộc, tôm suối hấp. Để có được món gỏi thơm ngon, yếu tố quan trọng nhất là nước chấm. Theo chị Oanh, công thức gồm mẻ, gừng, riềng, thịt nạc và điều quan trọng còn phụ thuộc vào “tay nghề” pha chế, khi quệt món gỏi vào nước chấm sền sệt, ăn có hương vị rất khó diễn tả…
Các công đoạn chế biến món gỏi lá cũng lắm công phu. Khi lấy các loại lá từ rừng về phải biết cách bảo quản sao cho thật tươi, lá phải xanh non. Riêng loại cá ăn kèm phải trải qua nhiều công đoạn chế biến: róc thịt, lược bỏ hết xương ra, thái mỏng, cho vào một ít chanh và ướp với gừng, riềng trong 10 giờ để thịt cá chín và hết mùi tanh, đủ độ cứng và thấm gia vị. Khi ăn, thay vì dùng bánh tráng để cuốn, chủ quán hướng dẫn người ăn lấy từng loại lá đan lại với nhau thành hình chiếc phễu, gắp bỏ thêm miếng thịt, mấy lát cá và con tôm chiên vàng, chế vào đó một muỗng nước chấm. Có như vậy, món ăn có đủ hương vị chua chua, cay cay, xen lẫn bùi bùi, đăng đắng của lá và vị béo thơm ngậy của thịt, cá, tôm. Người thích nhâm nhi có thể uống rượu ngâm đinh lăng.
BÀI VÀ ẢNH: TẤN TÀI – TẤN LỘC
Nguồn: SGTT
[Read More...]


Lá é cá trích



Một món của người dân tộc thiểu số vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa. Món ăn được làm công phu với nguyên liệu đơn giản, chỉ là cá từ dòng suối trong, lá từ cây rau dại… Ấy thế mà ngon!

Tây Nguyên thường được biết đến với những núi đồi bạt ngàn cây xanh, với rừng già, với tiếng cồng chiêng, tiếng hát vang vọng núi rừng, với những cô gái trong bộ áo váy sặc sỡ hay chàng trai lưng quàng khố, vai đeo gùi và những câu chuyện huyền thoại dựng nước, giữ nước…
Nhưng không chỉ có thế. Ngày nay Tây nguyên còn được biết đến với những món ăn lạ nhưng rất ngon. Đó là những món ăn mộc mạc, mà để thực hiện người nấu chỉ cần ra suối bắt con cá, vào rừng hái nắm lá…
Món ngon đời thường
Với người dân tộc khác thì lá é cá trích là món ăn lạ, ngon và độc đáo. Thế nhưng với người dân tộc Jrai vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa thì đây chỉ là món ăn đơn giản thường ngày. Họ bắt cá trích nơi các dòng suối nước trong văn vắt, mang về xâu lại thành từng xâu, phơi hơi se se rồi gác trên chái bếp, chỗ gần bếp lửa. Khói và hơi nóng hàng ngày sẽ làm thịt cá chắc lại và có mùi khói ám rất lạ.
Cá trích đã khô đem nướng trên lửa than riu riu, cứ nướng một mặt chứ đừng trở nhiều – khác với cách nướng của người Kinh là trở đều hai mặt trong suốt quá trình nướng. Khi cá đã cháy sém một bên, người ta mới lật qua mặt còn lại nướng tiếp. Có thể nói, mọi nguyên liệu và dụng cụ để thực hiện món cá này đều đơn giản đến đáng ngạc nhiên, ngay cả phần vỉ nướng. Người Jrai không dùng vỉ nướng cá mà lấy thân tre chẻ ra như những cái nẹp, kẹp cá rồi dùng chính lạt tre cột ở hai đầu và nướng.
Lá é là loại lá có mùi hương và dáng lá hơi giống rau húng quế của mình nhưng vị nồng hơn và cành cũng như lá nhỏ hơn, khi nhấm thử trong lưỡi thì cả hương lẫn vị đều đậm đà, thơm hơn rau quế. Hiện nay người Kinh có lai tạo và cho trồng ở vườn rau nhưng không có hương vị bằng. Lá có mầu xanh biếc, dáng lá nhỏ như những lá quế còn non.
Khi dùng, lá é được phơi cho héo khoảng 50%, thấy lá sầu sầu là được. Khi đã héo, lá rũ xuống, người ta tước lá khỏi cọng (có người tiếc, dùng cả cọng nhưng cũng không ngon vì cũng chẳng có hương vị gì). Khi cá đã chín vàng đều, gỡ bỏ ruột, đầu, xương, da cá. Thịt cá xé nhỏ, cho vào cối cùng với lá é phơi héo và giã. Khi giã, cho muối hột vào từ từ và giã đến khi lá, cá và muối quện vào nhau, sau cùng thì cho ớt khô và cọng cỏ ngọt.
Mộc mạc mà ngon
Cỏ ngọt cũng là một loại lá cỏ rất đặc biệt của vùng Tây nguyên, chỉ có vào tháng 10 – 11 hằng năm. Lá cỏ lớn hơn lá cỏ gấu. Vào mùa, cỏ nhiều, người Jrai hái và đem phơi khô rồi cứ gác ở chái bếp để dùng quanh năm, khi nhấm thử, vị của lá như bột ngọt nhưng lại là vị ngọt rất tự nhiên. Sau khi phơi khô, người Jrai lấy và giã nhiều lần cho thành bột rồi cất đi để riêng, lúc nào dùng sẽ lấy ra để nêm nếm món ăn, hoặc trộn chung với lá é, cá trích. Thông thường, chỉ khi nào có khách quý người ta mới dùng đến loại cỏ này. Bây giờ đa phần họ dùng bột ngọt thay cho cỏ ngọt, tuy nhiên trong nhà bao giờ cũng trữ một ít bột cỏ khô để dành khi cần đãi khách.
Lá é cá trích thường được dọn với cơm dẻo, dùng như muối mè của người Việt, không phải là gia vị chấm. Gạo để nấu cơm là gạo nương, hạt thô, màu hơi xám, mới nhìn như gạo cũ và có vẻ như mốc, nhưng không phải vậy. Khi nấu, nếu là gạo mới thì rất dẻo, dẻo như cơm nếp. Khi cũ, gạo sẽ se hạt, tựa như gạo thơm dẻo của người Kinh. Dọn kèm món ăn này là những món thịt rừng nướng, nhất là thịt bò nướng theo kiểu người Jrai, rất ngon.
Không phải là một món ăn cao sang, cũng không có một tên gọi hoa mỹ, lá é cá trích mộc mạc như bản chất của người dân tộc thiểu số. Món ăn tuy không đẹp nhưng khi ăn, để lại trong lòng khách một cảm giác thật ngon, ngon vì lạ và ngon vì chính bản chất bình dị, tự nhiên của món ăn… Ngon quá!
Bài & ảnh DZOÃN VÂN
Nguồn: Monngonvietnam
—————-
Chú thích:
Phú Bổn là một tỉnh cũ thời Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9-1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia tỉnh Pleiku ra 2 tỉnh: Pleiku và Phú Bổn. Từ năm 1976, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn diện tích lại được nhập sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum.

Địa lý

Hành chính

Phú Bổn giáp hai tỉnh Pleiku và Bình Định về phía bắc, tỉnh Phú Yên về phía đông, Đắc Lắc về phía nam và tây nam, Pleiku về phía tây. Diện tích toàn tỉnh là 4.822 km². Tỉnh lỵ đặt tại Hậu Bổn (Cheo Reo). Tỉnh có 3 quận là Phú Thiện, Phú Túc (nay là Krông Pa) và Thuần Mẫn.
Quận lị Thuần Mẫn cách Hậu Bổn (Cheo Reo) 15 km về phía tây nam, nay nằm ở vùng giáp ranh hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc.
Sau năm 1975, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn địa bàn tỉnh chuyển sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum, riêng vùng phía nam quận Thuần Mẫn nay thuộc tỉnh Đắc Lắc.

Tự nhiên

Phú Bổn nằm ở cao độ từ 150 m đến 1.000 m, có núi rừng bao bọc chung quanh. Những ngọn núi cao ở đây gồm có Chu Tryan 1.331 m, Chu Kheur 1.088 m; Chu Dju cao 1.230 m, Chu Dlé Ya cao 1.215 m.
Sông chính của Phú Bổn là sông Ba (người Thượng còn gọi là Ia Ba hay Ea Pa), phát nguồn từ núi Ngọc Roo (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), chảy theo hướng bắc-nam, khi tới Cheo Reo thì gặp sông Ia Ayun. Sông Ia Ayun bắt nguồn từ chân núi Kon Lack (thuộc tỉnh Pleiku), chảy vào Phú Bổn theo liên tỉnh lộ số 7. Sông Ba có các sông nhánh chính là sông Ea Thul, phát nguồn từ núi Kong Wan Riom; sông Cà Lúi và sông Ba M’la, phát nguồn từ núi Chu Prong và sông Krong Nang phát nguồn từ núi Chu Dlé Ya. Vào mùa mưa, sông Ia Ayun và sông Krong Nang thêm nước vào sông Ba làm lưu lượng nước chảy mạnh về phía đông nam, cuốn nhiều đất phù sa bồi đắp cho bình nguyên Phú Bổn.

Khí hậu

Khí hậu Phú Bổn có hai mùa mưa nắng, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 3.

Dân số

Tính đến năm 1971, tỉnh Phú Bổn có tổng cộng 69.765 người, đa số là người Jarai và Bahnar.

Giao thông

Liên tỉnh lộ 7 là đường giao thông quan trọng, nối Phú Bổn với các tỉnh lân cận.
[Read More...]


Cà Đắng – Prền Bơtang trong bữa ăn người Kơ Ho




Người Tây Nguyên có trồng một giống cà gọi là cà đắng – prền bơtang vì có vị rất đắng, trên đất rẫy và cả trong vườn nhà. Loài cà này để lại nhiều tên gọi như ruộng Cà đắng – Sơre Prền ở Di Linh, Đưng Prền ở gần thác Prenn bây giờ.
Ngày xưa, không biết là từ lúc quân Nhật xâm chiếm nước ta hay trước nữa, khi người Nhật đặt chân đến vùng đất Tây Nguyên, đã để lại cho vùng đất này một loài Cà mới, mà người Kơ Ho gọi cây cà này là prền Nhật-cà Nhật. Tuy bà con không trồng nhưng đây là một loại cây cà mọc rất khỏe, bụi to, ở khắp nơi trong rừng trong rẫy, ở cả những vệ đường, cạnh khe suối.
Trái cà đắng
Hai loài cây cà Nhật và cà Đắng của “người đồng bào” nhìn cũng gần giống nhau, đều là cây có gai nhưng cà Nhật quả to hơn cà Đắng, cà Nhật có hoa màu trắng quả màu xanh nhạt, còn cà Đắng thì lại có hoa màu tím quả màu xanh đậm hơn. Cà Đắng và cà Nhật đều có mùi thơm, cà Nhật có mùi thơm ngọt còn cà Đắng có mùi thơm của vị đắng.
Cà Nhật không có vị đắng mà rất ngọt, còn loại cà Đắng của “đồng bào” thì rất đắng, nhưng nhiều người vẫn thích vị đắng của cà này. Nếu giã cà Đắng với gạo rồi nấu cháo thì cháo cà vừa ngọt vừa có vị hơi đắng. Với cà Nhật bà con chỉ nấu với cá đã phơi khô, thịt khô hoặc nấu chỉ mỗi món cà không, chứ không dùng nấu cháo như cà Đắng. Người già rất thích ăn loại này, thậm chí có người già chỉ nấu cà không, mà không cần cho gia vị gì, chắc để được ăn hương vị thô mộc như vậy.
Cà Đắng là một loại cà ít dân tộc nào biết ăn, nhưng đối với người Kơ Ho thì là món ăn rất quen thuộc và rất tốt cho người đau ốm. Có người nói vị đắng này giúp tiêu mỡ độc, phòng bệnh tiểu đường,…
DANZBI KA HẸ (Báo Lâm Đồng)
[Read More...]


Đặc sản sữa đậu nành




Đạo diễn, nhà biên kịch phim Lưu Trọng Ninh, người rất gắn bó và có nhiều duyên nợ với Đà Lạt đã có lần thốt lên: “Tôi nhớ nhất những buổi tối trời lạnh, ngồi uống ly sữa đậu nành nóng hổi ven bờ hồ Xuân Hương, thật nên thơ và khó quên”. Những gánh sữa đậu nành Đà Lạt quả thực là một nét rất riêng của phố núi, khiến đông đảo du khách yêu thích và mãi nhớ.
Sữa đậu nành Đà Lạt không phải cao sang gì, nó được ra đời từ những hạt đậu nành bình dị. Qua tay người ngâm, xay, qua lửa để nấu lên, thế là có ngay một ly sữa đậu thơm ngon. Nhưng sữa đậu nành Đà Lạt trở thành đặc sản bởi nó ăn khớp đến kỳ lạ với không gian lạnh phố núi, bởi ánh lửa hồng bập bùng giữ ấm sữa sôi nhè nhẹ và nhất là, bởi tình người dường như thân hơn khi ngồi cạnh nhau, cùng chia sẻ ly sữa nóng.
Quán sữa đậu nành trên đường Phan Đình Phùng- Đà Lạt
Không thể tính hết Đà Lạt có bao nhiêu hàng sữa đậu nành. Mỗi góc chợ, góc phố hầu như đều có một hàng sữa đậu nành. Bán sữa đậu nành không đòi hỏi kỳ công, chỉ cần một chiếc nồi to, trong đầy ắp sữa, đặt trên một bếp lửa đở, vậy là có thể mời gọi khách hàng đến thưởng thức. Đặc biệt nhất là sữa đậu nành Đà Lạt lúc nào cũng là hàng bình dân, chỉ với giá từ 2-3 ngàn đồng là có thể có một ly sữa nóng.
Nhưng không phải là bình dân mà sữa đậu nành không đi vào lòng người dân địa phương và du khách. Có những địa điểm bán sữa đậu nành được ưa chuộng tới mức trên các trang mạng về Đà Lạt, du khách chia sẻ với nhau những quán sữa đậu nành ngon, giá cả phái chăng. Đó là quán đậu nành trên đường Tăng Bạt Hổ, phục vụ không chỉ sữa đậu nành mà có cả sữa đậu xanh, đậu đen, đậu phụng, các loại bánh ăn kèm như su kem… chuyên bán vào ban đêm.
Hay quán sữa đậu góc bùng binh  đường 3/2- Hải Thương Lãn Ông, thu hút hàng trăm khách chỉ với món sữa đậu nóng. Và hàng chục gánh sữa đậu trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, khu chợ đêm Đà Lạt hay những gánh dọc hồ Xuân Hương. Đây là những địa chỉ phục vụ sữa đậu nành được du khách ưa chuộng nhất do sữa ngon, giá cả phải chăng và nhất là, có không gian đẹp để du khách vừa thưởng thức sữa đậu nóng, vừa hít hà cái lạnh Đà Lạt. Hàng trăm gia đình Đà Lạt sống nhờ vào nồi sữa đậu và đồng thời, họ cũng giúp hàng ngàn du khách có thêm một ấn tượng đẹp về phố núi mờ sương chỉ với ly sữa nóng.
Không chỉ dừng lại ở mức một thức uống khoái khẩu, một thú chơi Đà Lạt, sữa đậu nành thực sự là một loại thức uống bổ dưỡng. Bác sỹ Trần Danh Tài, chủ tịch hội Đông y Lâm Đồng từng phát biểu: “Tôi khẳng định, sữa đậu nành cho giá trị không kém gì sữa bò, thậm chí còn mang lại nhiều lợi ích hơn. Tôi luôn khuyên mọi người, nhất là phụ nữ và trẻ em tích cực dùng sữa đậu nành,  không chỉ sử dụng sữa bò vì sữa đậu nành cho bạn những thứ sữa bò không có”.
Theo bác sỹ Tài, sữa đậu nành giàu can xi, giàu đạm như sữa bò nhưng cơ thể dễ hấp thu và không có cholesterol, rất phù hợp với nhu cầu của người Việt, giá cả lại phù hợp với túi tiền của hầu hết mọi gia đình. Nhất là phụ nữ trong thời kỳ sinh sản và tiền mãn kinh, nên sử dụng sữa đậu nành hàng ngày, vừa đủ dưỡng chất mà lại không lo béo phì. Bác sỹ Tài khuyên các gia đình nên tự ngâm đậu nành, xay và sử dụng hàng ngày như thực phẩm bổ sung dinh dưỡng.
Tuy nhiên, ông cũng cho biết nếu không có điều kiện tự làm ở gia đình, có thể sử dụng sữa đậu nành được sản xuất công nghiệp nhưng phải bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Có thể sử dụng loại đóng chai hay tiện hơn là sử dụng loại sữa đậu nành tiệt trùng trong hộp giấy, vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo an toàn cho người uống.
Là người đã có gần nửa thế kỷ gắn bó với nghề y, nhất là với y học dân tộc, bác sỹ Trần Danh Tài rất khuyến khích người Việt nên sử dụng những thực phẩm phù hợp với tập quán, với khả năng kinh tế mà vẫn đảm bảo sức khoẻ lâu dài. Và mới đây, một cơ sở sản xuất sữa tại Đức Trọng đang trong quá trình thử nghiệm sản xuất và đóng sữa đậu nành vào hộp giấy. Hy vọng trong tương lai gần sẽ được sử dụng sữa đậu nành hộp giấy “made in Lâm Đồng”.
Diệp Quỳnh (Báo Lâm Đồng)
[Read More...]


Độc đáo ẩm thực trà phố núi




Trà – với nam giới thường chỉ sử dụng để uống (trà nóng, trà đá…), bên tách trà, các quý ông có thể trầm ngâm, thư thái vừa thưởng thức trà, vừa nhâm nhi điếu thuốc. Nhưng với phụ nữ, do phải lo toan nhiều thứ: lo cho gia đình, ngoài ra còn công tác xã hội, văn phòng, cơ quan… nên ít có thời gian để ngồi thưởng thức trà như nam giới.
Chính vì vậy Trung tâm ẩm thực trà đạo HaiYih – số 4 Trần Quốc Toản – Đà Lạt đã sáng tạo ra các món ăn từ đọt trà giúp chị em ngày càng xinh đẹp, trẻ trung hơn như: trà tươi tẩm bột chiên, kẹo trà, bánh hạnh nhân trà, bánh bao trà, xíu muội trà, trà đông, trứng chiên trà…
Trà đông hay còn gọi là đông sương trà
Với cuộc sống hiện đại như ngày nay, nam nữ bình quyền như nhau, vì thế người phụ nữ cũng cần phải chăm sóc, dành cho mình những gì tốt đẹp nhất. Đây cũng là những món ăn mang tính truyền thống của Việt Nam, rất dễ làm, lại sạch, đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Sau mỗi ngày làm việc căng thẳng, trở về nhà, chị em có thể dùng vài chiếc bánh bao trà, vài ly trà đông và thưởng thức ly trà nóng với viên xí muội trà, kẹo trà, chắc chắn sẽ giúp giảm đi sự mệt mỏi, căng thẳng trong người.
Kẹo trà- thường dùng chung với ly trà nóng
Chị Hà Thúy Linh – người nảy ra ý tưởng âm thực và làm đẹp tự trà cho biết: Với sản phẩm cao cấp trà oolong chị em có thể dùng để làm đẹp rất tốt. Ví dụ như lá trà, đọt trà có thể rửa sạch, ngâm muối, nấu sôi, rót ra ly, cho thêm một ít sữa tươi, vài giọt mật ong vào là có thể dùng để làm nước rửa mặt, một ngày rửa 2 lần, giúp làn da mịn màng, trắng sáng, giúp sát khuẩn cho da, và còn có thể giảm bớt mụn trên mặt.
Xí muội trà
Cũng có thể giảm stress bằng cách đun sôi 1kg trà búp tươi với 15 lít nước, sau đó rửa sạch, đun sôi, cho thêm một lít sữa tươi, một ít mật ong, đổ vào bồn tắm, ngâm mình trong vòng 45 phút ở nhiệt độ 45 – 50oC, tùy theo thể trạng của mỗi người có thể điều chỉnh độ nóng khác nhau, sau khi ngâm mình xong, toàn bộ phòng tắm sẽ bốc hơi trà rất thơm, giúp cơ thể thư giãn, sảng khoái giống như xông hơi vậy. Ngoài ra, trà oolong còn có chức năng trị các bệnh về da như: rôm xảy, dị ứng, nổi trái dạ…tắm liên tục trà oolong trong vòng 3 – 5 ngày giúp giảm bệnh, lành da, đặc biệt không để lại sẹo.
Bánh bao trà
Khi uống trà xong, bã trà có thể dùng để hút hết mùi hôi trong tủ lạnh, mỗi tuần khử mùi một lần, giúp tủ lạnh của gia đình bạn sạch sẽ, vệ sinh hơn.
Với đôi chân của chị em làm việc ở công sở, mang giày thường xuyên, bạn có thể dùng nước trà oolong để ngâm chân từ 30 – 40 phút, giúp cho chân được thư giãn, hết mùi hôi, hết mồ hôi chân.
Trà được coi là đa công dụng, ngoài chức năng dùng để uống, trị các bệnh huyết áp, tim mạch, chống hôi miệng….đặc biệt thích hợp với phụ nữ ở nhiều công dụng như đã nói ở trên.

Các bạn hãy chú ý và sử dụng xem sao nhé!

Nguyện Thu (Báo Lâm Đồng)
[Read More...]


Thịt nai Đắc Lắc




Thịt nai món đặc sản chủ yếu của vùng rừng núi Tây Nguyên chỉ còn phong phú ở Đắc Lắc mà Tây Bắc Việt Bắc bây giờ khó kiếm được trong những hành trình qua miền biên giới Thượng du Bắc Bộ.

Thịt nai tươi khác thịt bò ở chỗ ít gân, mở màu trắng ngà, mềm hơn cả thịt bê non. Thịt bò 7 món đã gây thêm muốn, có nơi trở thành đặc sản, nhưng 7 món nai vượt xa một cách bất ngờ, cho nên càng không thể so sánh với bò, cho dù là bê cũng không đọ nổi với thịt nai.
Nhà hàng đặc sản thịt nai tươi ở Buôn Ma Thuột thành phố trung tâm của tỉnh Đắc Lắc đã đưa thịt nai vào hầu hết thực đơn bữa thường, bữa tiệc… bằng các món nai nướng, nai xào làn, nai nhúng giấm nai lúc lác, sườn nai rán, cháo bao tử và sau cùng là nai khô hợp lại đủ 7 món như thịt bò. Nhưng với nai thì nai nướng, nai nhúng giấm, và nai khô lại là những món tiêu biểu nhất.
Thịt nai nướng thái mỏng ướp mở nước và gia vị rồi cắt mấy lát gừng nướng riêng để ăn nóng cùng lúc với nai nướng. Nai nướng không cần nước chấm, cũng không cần muối tiêu, miếng thịt nai nướng chín ngọt, mềm cộng với vị gừng nóng kích thích người ăn đến mê say mặc dù chưa dùng đến rượu bởi thịt nai khêu ngợi sự thèm muốn ăn hơn là uống. Còn ai đó đã có thói quen ăn nhậu cứ phải có chút nước thần đưa cay thì xin tuỳ ý và vô hại.
Nai nhúng giấm lại cứ như một bản nhạc đã chuyển gam bởi lẽ đã thấm đậm đà một hương vị không giống miếng nai nướng béo ngậy.

Nai nhúng cũng phải thái mỏng nhưng lại ướp với sả nước mắm ngon, ngũ vị hương và tỏi. Khi ăn phải dùng lẩu đặt giữa bàn, nước dùng có pha giấm đun sôi sục, cạnh lẩu là một khay to đựng đủ loại rau: sa lát,cà chua, hành tây thái khoanh, chuối xanh thái lát.
Thịt nai để sống bên ngoài gặp nhúng vào lẩu rồi ăn kèm với đồ sống mỗi thứ một tý hoặc chỉ ăn với rau sa lát hay khế với chuối xanh tuỳ theo sở thích và khẩu vị từng người, nhưng dù cách ăn nào thì cũng chỉ có ngon và cũng chỉ thích thú mà thôi.
Thịt nai nhúng giấm ăn được nhiều mà cũng không nặng bụng như thịt bò tuy cũng theo lối nhúng giấm. Nai nhúng giấm ăn kèm với bún hoặc bánh đa nướng vừa là món nhậu, vừa là món ăn no.

Nai khô có thể là đầu bảng trong các món nai. Thịt nai thái ngang thớ, miếng dài chừng 5 cm ướp kỹ bằng xì dầu, sả, muối, đường, ớt mè trắng và ngũ vị hương.
Sau khi ướp trong vòng 80 phút lấy từng miếng nướng trên than hoa, nướng xong dùng sống dao dần cho miếng thịt mềm mại rồi ăn mà không cần chấm với bất cứ thứ gì.
Nai khô không béo ngậy như nai nướng vì cách thức và nguyên liệu tẩm ướp khác nhau nên miếng nai khô ngọt lịm lại được phép nhâm nhi với ly rượu cao nai thì quá tuyệt vời mà ở thành phố miền xuôi thì sao có được! Nhất là trong thời kỳ nghiêm cấm săn bắt thú rừng quí hiếm ngày nay. Chẳng biết rồi mai đây Buôn Ma Thuật còn có thịt nai 7 món như bây giờ?
Theo Ẩm Thực 365
[Read More...]


Mì Quảng cá tràu




Xã Quảng Điền nằm ở phía cực nam của huyện Krông Ana (tỉnh Đắk Lắk) là khu dân cư đến từ đất Quảng. Không chỉ mang theo tên đất tên làng mà họ còn mang theo món ăn đặc sản của quê hương trong những chuyến di dân. Một trong những món ăn đó là mì Quảng, nhưng là mì Quảng nấu cá tràu.
Mì Quảng cá tràu
Để có tô mì Quảng ngon phải qua nhiều công đoạn. Đầu tiên là vo gạo, ngâm rồi xay bột, lấy trùng bột vừa bánh mới ngon. Tráng bánh đòi hỏi phải khéo tay, bánh mỏng, đều thì con mì ngon hơn khi ăn. Bánh tráng xong lấy ra gọi là mì lá. Xắt lá mì thành sợi là việc làm thể thiện tay nghề người làm bánh. Một tay cầm cán dao, một tay đặt lên mũi dao lần lượt nhấn từng tay xuống vừa di chuyền dần theo lá mì gấp tư để tạo thành mì sợi.
Công việc này gọi là chấn mì. Người khéo tay, lành nghề mới làm nhanh và con mì đều được. Mới là sợi mì đã lắm công phu, người ăn được thưởng thức cả sự cầu kỳ và kỹ năng người thợ trong từng con mì. Nước nhưn ăn mì cũng không kém phần công phu.
Thông thường nhưn mì được nấu từ xương heo, cà chua, trái thơm xắt lát mỏng, thịt heo nạc, đậu khuôn xắt lát và một số loại rau thơm, hành ngò. Nước nhưn ăn mì Quảng ngon ở vị ngọt, ít béo. Muốn ngon hơn thì nấu nhưn thịt gà. Ở Quảng Điền món ăn này ngon hơn nhờ nhưn cá tràu. Cá ở đây nhiều nên giá thành một nồi nhưn cá tràu rẻ hơn nhưn gà mà lại ngọt hơn, ngon hơn.
Cá tràu làm sạch luộc chín rồi ráy thành lát nhỏ, ướp gia vị, um thật thấm thêm nước và gia vị khác vào nấu nhưn mì Quảng. Xương và đầu cá tràu không bỏ đi mà giã nhuyễn, cho nước vào lọc bỏ xác thêm vào nồi nhưn. Nước lấy từ xương và đầu cá sẽ làm nước nhưn ngọt hơn.
Vì đây là vùng núi nên có thêm măng khô trong nồi nhưn mì Quảng, một ít nấm rơm và tôm đồng để tạo vị ngọt thơm đặc biệt của món ăn này. Mì Quảng ăn với rau sống, giá đỗ, bánh tráng nướng, chanh ớt và đậu phộng rang giã nhỏ tạo hương vị riêng rất ấn tượng. Để ăn cũng có nét riêng là dùng đũa mà không có muỗng. Nước nhưn trong tô muốn ăn phải bưng tô lên chứ không dùng muỗng như ăn phở.
Trong và sau những ngày Tết Nguyên đán người ta thường có cảm giác ngấy thịt heo thì mì Quảng cá tràu càng được ưa chuộng bởi vị ngọt ngon từ con mì đến nước nhưn.
Trong tâm thức người dân ở Quảng Điền có niềm tin đầu năm ăn cá tràu thì cả năm sẽ khỏe mạnh. Vì vậy nhiều nhà rộng cá để dành cho ngày tết. Trong mâm cơm cúng gia tiên vào ngày mồng ba Tết Nguyên đán thường có món mì Quảng cá tràu vừa để tỏ lòng thành, vừa cầu bình an, khỏe mạnh trong năm.
Với những người con xứ Quảng sống xa quê, mì Quảng cá tràu chắc chắn còn là món ăn vừa ngon vừa mang nặng tâm tình bởi mang đậm nét văn hóa con người đất Quảng.
Theo Báo Tuổi Trẻ
[Read More...]


Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2011 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Hack Tutors