Bánh gai, món ngon của người Tày, Nùng Cao Bằng



Bánh gai là một thứ quà quê quen thuộc với nhiều người. Bánh gai Hải Dương ngon có tiếng, bánh ít lá gai Nam bộ cũng thật hấp dẫn… nhưng bánh gai của người Tày, Nùng ở Cao Bằng thì phải nói khá là đặc biệt.
 
Bánh gai Cao Bằng gắn liền với một truyền thuyết. Người dân nơi đây vẫn kể rằng vào thời vua Lý Thái Tông (đầu thế kỷ 10), giặc Tống sang xâm lược nước ta, thủ lĩnh của người Cao Bằng là Nùng Trí Cao đã chỉ huy quân dân vùng biên ải đánh giặc. Đồng bào làm bánh gai cho các chiến binh đem theo làm lương khô ra trận. Bánh được xâu thành từng cặp để đeo bên người cho tiện cho nên người Tày, Nùng gọi là pẻng tải (bánh đeo). 

Gạo để làm bánh phải là loại nếp ngon, không lẫn tẻ, có vậy bánh mới mềm và dai, ăn không cứng. Nếp được ngâm chừng một buổi cho no nước, xay trong cối đá thành một thứ bột đặc sánh, đựng trong túi vải, treo lên cho róc nước.

Lá gai đã được hái về từ trước, tước bỏ gân lá, phơi khô. Lá khô đem ninh, khi đun bỏ thêm chút vôi tôi cho mau nhừ. Xong, rửa sạch, vắt khô, thái mịn. Đường phên (một loại đường thẻ, miếng to chừng bàn tay) đun cho sôi chảy rồi trộn với lá gai thành một thứ mật sền sệt. Người ta nhào mật này với bột cho đều rồi đem giã trong cối đá cho thật nhuyễn.

Bột giã xong có màu xanh đen, mịn màng, dẻo quánh. Mùi nếp, mùi mật, mùi lá gai quyện vào nhau thơm nức.

Bánh gai gói bằng lá chuối, hình dẹt. Nhân bánh gai được làm bằng lạc rang giã nhỏ hoặc đỗ xanh trộn đường. Bánh hấp trong chõ như đồ xôi. Từ lúc nước sôi cho đến khi bánh chín, chừng tàn

Khi ăn, không thể lột bỏ lá bánh một cách vội vàng được. Phải thong thả tước lá thành từng sợi để bánh khỏi dính theo lá. Chiếc bánh bóc ra đen nhánh, mịn màng như một lát thạch. Bánh có vị ngọt sắc của đường, vị dẻo thơm của nếp và lá gai, vị bùi của nhân đậu. Ăn không ngấy.

Bánh gai có thể để nhiều ngày mà không sợ mốc. Nếu để lâu, bánh khô, người ta có thể đem nướng trên than hồng, bánh nở phồng, ăn vẫn ngon. Hoặc có thể đem rán lại cho bánh mềm, ăn có vị ngon riêng.

Trước kia, người Cao Bằng thường chỉ làm bánh gai vào dịp rằm tháng bảy, vừa để cúng tổ tiên, ông bà vừa để ôn lại câu chuyện về những ngày hào hùng xưa kia. Bây giờ bánh trở thành một món quà dân dã, thường có bán trong những ngày chợ phiên, những quán nước. Khách nơi xa đến Cao Bằng bao giờ cũng mua lấy mươi cặp bánh gai đem về làm quà cho người thân, như để giới thiệu một chút văn hóa của một vùng đất biên cương.
[Read More...]


Vịt rang me



Nguyên liệu:
- 1 con vịt
- 1 trái dừa
- 50g me chín
- 2 trái cà chua
- 1 củ gừng
- 2 muỗng canh rượu trắng.
- 1 chén tương hột xay
- Gia vị: tỏi, tiêu, muối, đường, bột ngọt, hành lá, ớt trái, dầu ăn.
Cách làm:
Vịt làm sạch, thoa hỗn hợp muối, gừng, rượu lên vịt ướp 10 phút rồi rửa sạch lại để khử bớt mùi. Chặt vịt ra thành miếng vừa ăn. Ướp thịt vịt với tỏi và hành băm, muối, đường, bột ngọt để cho vịt thấm gia vị. Thả vịt vào chảo dầu chiên cho đến khi vịt vàng giòn. Vớt thịt vịt qua một cái nồi, cho nước dừa và một phần nước lạnh vào, hầm cho đến khi vịt mềm.
Bắc chảo, cho vào 2 muỗng canh dầu ăn, phi tỏi thơm, để tương vào xào rồi rưới vào nồi thịt vịt nấu cho thấm, khi vịt mềm cho nước me dầm vào nấu sền sệt lại để có nước chấm. Nêm nếm lại sao cho vừa miệng.
Múc thịt vịt ra đĩa, quanh đĩa xếp cà chua cắt lát. Món này ăn với bánh mì và hành củ ngâm giấm, ăn lúc còn nóng rất ngon. 
Đông Xuân
Thanh Niên
[Read More...]


Hấp dẫn ốc bươu nướng ngày lạnh



Món ốc bươu nướng thường ăn kèm với các loại rau như rau răm, rau thơm, lá xoài non, lá lốt... tạo nên hương vị độc đáo không lẫn vào đâu được.

Ốc bươu sống chủ yếu ở ao hồ, ruộng nước, sông đầm ít chảy. Thực phẩm của chúng thường là rau, lá, bùn non và khi mùa mưa đến là thời điểm chúng phát triển mạnh nhất.
Ốc bươu đặt trên bếp than nướng.
Người đi bắt ốc bươu chỉ cần đi quanh những nơi đầm lầy, ruộng nước có lá mọc nhiều là có thể tìm bắt được chúng. Nhưng để bắt được nhiều thì cần phải có kinh nghiệm bởi ốc thường bám trên các thân gỗ mục, hoặc bám đầy dưới các rễ cây. Do đó chỉ cần chặt thân chuối thả xuống ao, chỉ sau một vài cơn mưa là ốc đã bám đầy thân chuối và khi đó chỉ cần kéo thân chuối lên bờ là đã có một bữa ốc cho cả nhà ăn.
Có điều ốc bươu khi bắt hay mua về không nên ăn ngay mà thả ốc vào chậu nước vo gạo qua đêm để ốc nhả hết nhớt. Nếu muốn ăn ngay chúng ta cho thêm vào chậu nước ngâm ốc một vài trái ớt hiểm đập dập thì khoảng hai giờ sau mới có thể chế biến được.
Ốc bươu có thể chế biến thành những món ăn quen thuộc như um, hấp, xào lăn... nhưng với  ốc bươu nướng thì có lẽ khá độc đáo mà không phải ai đã từng nhiều lần ăn ốc bươu cũng được thưởng thức món ăn này.
Đĩa ốc bươu nướng
Gừng, tỏi băm vắt nước hoà với nước mắm, đường và tiêu. Cho hỗn hợp này vào từng con ốc ướp khoảng 15 phút, sau đó nướng trên lửa than đến khi miệng ốc sôi sùng sục, bốc mùi thơm lựng. Tiếp tục rưới nước sốt được làm từ chanh, đường, tiêu, tỏi, ớt và nước mắm chờ thêm khoảng 5 phút cho nước sốt ngấm đều vào thịt ốc thì đem ốc xuống bày ra đĩa để thưởng thức.
Trong những ngày giá lạnh tê buốt này, được ngồi quây quần cùng người thân bên bếp lửa hồng nướng những con ốc bươu rồi cùng nhau hít hà thưởng thức thì không có gì thú vị và hấp dẫn bằng.
Theo Lao Động
[Read More...]


Nem lụi xứ Quảng



Chỉ với những nguyên liệu hết sức quen thuộc cùng cách chế biến đơn giản nhưng bằng sự tài tình, khéo léo và tinh tế của mình, người Quảng đã tạo nên món nem lụi thơm ngon, được nhiều du khách cũng như những người sành ăn lựa chọn mỗi khi mùa lạnh đến.
Món nem lụi hấp dẫn hơn khi ăn kèm bánh tráng, rau sống.
Nem lụi xứ Quảng có thể được làm từ thịt bò nhưng ngon nhất vẫn là nem lụi thịt heo. Phải chọn loại thịt thăn của những con heo vừa mới mổ. Thịt được rửa sạch, để ráo, quết nhuyễn rồi trộn với một ít thịt mỡ (thái hạt lựu), như vậy sau khi chế biến xong món ăn sẽ béo và thơm hơn. Ướp hỗn hợp trên với hạt nêm, tiêu bột, hành băm, tỏi khoảng mười phút. Khéo léo bao phần thịt đã sơ chế quanh những chiếc đũa tre (gọi là lụi) sao cho thật đều, thật nhẵn và thật đẹp mắt. Khi có khách gọi món, người chủ quán sẽ nướng những que thịt trên bếp than hồng. Nhanh tay lật trở cho đến khi những que thịt chuyển màu vàng nhẹ, tỏa hương thơm ngào ngạt là được.

Món nem lụi có ngon hay không phụ thuộc rất nhiều vào nước chấm. Có thể nói, nước chấm là linh hồn của món nem lụi. Nước chấm được làm từ đậu phộng rang, gan heo luộc chín, tất cả xay nhuyễn trộn cùng một ít dầu phộng phi thơm, nước mắm. Bằng bí quyết riêng của mình, từng người bán hàng sẽ gia vị và pha chế sao cho chén nước chấm đặc sền sệt, thơm ngon và thật đậm đà.

Rau sống để ăn nem lụi ngon nhất là rau của làng rau Trà Quế (Hội An). Khi ăn, thực khách dùng một miếng bánh tráng mỏng, xếp các loại rau thơm, chuối chát, dưa leo, xà lách, một miếng bánh tráng chiên giòn (bánh tráng mỏng, cuộn tròn rồi chiên giòn), thêm một que thịt nướng nóng hổi rồi cuốn lại, chấm nước dùng và từ từ thưởng thức những hương vị thơm ngon, dai dai, mềm mại, béo của thịt, giòn của bánh tráng chiên, thơm ngon, đậm đà của nước chấm cùng vị tươi ngon của rau xanh, tất cả những hương vị ấy hòa quyện vào nhau, thật thơm, thật ngon và thật hấp dẫn.

Theo Lao Động
[Read More...]


Dây mỏ quạ - món ngon nơi miền Tây



Trong số nhiều loại rau “cây nhà lá vườn” ở Cần Thơ như cải trời, cù nèo, rau nhút, lá cách... có đọt và bông của một loài rau rất lạ đó là dây mỏ quạ.

Mỏ quạ là loại dây leo, mọc hoang trong tự nhiên ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dây mỏ quạ thường mọc vào đầu mùa mưa (tháng 4 - 9 âm lịch), lá màu xanh, có hình dáng quả tim. Mỏ quạ ra hoa vào khoảng tháng 9 âm lịch. Hoa mỏ quạ có từng chùm màu trắng tương tự như hoa thiên lý nhưng khác màu. Hoa có mùi thơm thoang thoảng đặc trưng. Trái có màu xanh (tương tự như trái gòn non), khi lớn cỡ đầu ngón chân cái, phía đuôi trái uốn cong lên trông như mỏ quạ, và người Khơ-me Nam bộ gọi loại dây này với cái tên ưng à co (có nghĩa là mỏ quạ).
Dây mỏ quạ
Trái mỏ quạ già (khoảng tháng 3 năm sau) tự nứt vỏ, hạt mỏ quạ dẹp, màu đen trông tựa con bò chét chó, được kết dính bởi những chùm lông tơ màu trắng bay bồng bềnh theo gió để tự sinh sôi nảy nở...
Dây mỏ quạ sống rất khiêm tốn trong thiên nhiên như thế, nhưng mấy ai biết đọt và lá non, hoa và trái non của dây mỏ quạ là một món ngon dân dã, độc đáo, mà các bà nội trợ nơi đây rất ưa chuộng để chế biến món ăn như: đọt mỏ quạ nấu canh tép (hoặc thịt), trái non luộc chấm nước cá kho (hay thịt kho)…. Riêng, hoa mỏ quạ xào xào thịt bò hay nhúng lẫu là khỏi chê.
Chế biến món bông mỏ quạ xào thịt bò rất dễ và nhanh. Chỉ cần mua khoảng 200 gram thịt bò phi lê về rửa sạch, xắt miếng mỏng. Ướp thịt bò với gia vị (nước tương + bột ngọt + đường ) cho vừa khẩu vị. Hoa mỏ quạ (khoảng 200 gram) nhặt cuống, rửa sạch, để ráo. Hành tây lột vỏ, rửa sạch, xắt miếng. Trước hết, bắc chảo lên bếp phi mỡ (dầu) cho thơm, đổ thịt bò đã ướp gia vị xào chín, múc ra dĩa. Tiếp đến, cho hành tây xắt miếng cùng hoa mỏ quạ vào chảo xào vừa chín tới (đừng để lâu, hoa mỏ quạ chín quá, mất ngon). Cuối cùng, cho thịt bò (đã xào) vào trộn đều, nhắc xuống. Nhớ cho vào vài cọng rau cần, một ít tiêu xay và múc ra dĩa là xong. Món này dùng với nước tương ớt “rất bắt”.
Bông mỏ quạ
Những ngày cuối tuần cùng những người bạn thân vào quán vắng nơi ngoại thành để thưởng thức món hoa mỏ quạ xào thịt bò. Gắp một miếng thịt bò cặp cùng hoa mỏ quạ chấm vào chén nước tương đưa lên miệng nhai một cách từ tốn. Vị ngọt của thịt bò, hòa lẫn vị giòn, ngọt, và mùi thơm đặc trưng của hoa mỏ quạ len vào trong miệng. Hớp một cốc bia lạnh vào nữa, thật vô cùng sảng khoái và nhớ về quê hương miền Tây da diết.

Theo Báo Thanh Niên
Theo Lao Động
[Read More...]


Dân dã mắm thu xay



Trong một lần về Quy Nhơn, ông bạn thân phán con gái Bình Định cũng quyến rũ như mắm cá thu. Người viết ngu ngơ chẳng biết vì sao mà xứ võ lại có thứ mắm nào có thể tự cao đến vậy.


Nhưng có đi mới biết, ở Bình Định, vào khoảng tháng 2 – 5 là mùa cá thu rộ. Cá để chọn làm mắm là những chú cá thu bổi, đầu mùa, dính lưới đơn lẻ. Những người có thâm niên làm mắm tiết lộ, để mắm ngon phải chọn con cá tươi và lớn, nhiều thịt. Muối dùng để ướp cá phải là muối hầm, trắng ngà và khô, để mắm có mùi thơm và không bị chảy nước. Một dân biển kỳ cựu Phú Yên khẳng định mắm cá thu ngon hay dở còn tuỳ thuộc vào bí quyết riêng của mỗi vùng miền. Mắm cá thu nổi tiếng nhất chỉ có mắm cá thu chà và mắm cá thu cắt lát. Muốn làm mắm cá thu chà thì mua cá về lóc thịt rồi ướp muối; còn mắm cá thu cắt lát thì phải ướp muối nguyên con cá, đợi khi cá chín thì lấy ra cắt lát bỏ vào hũ. Sau đó, dùng thính thoa lên từng khúc cá rồi lót lá chuối sao cho không có khe hở trong hũ mắm, rồi lấy nước mắm ngon chế lên bề mặt lá chuối, để nước xay mịn hoặc quết nhuyễn, đơn giản hơn nhưng ngon nức nở. Mắm có màu vàng kem, mịn màng thoạt nhìn giống như chao đậu quết nhuyễn, mắm thấm từ từ xuống phần cá phía dưới.

Ông bạn quê xứ võ thì cứ cam đoan rằng những ngày sa mưa, chỉ thèm bữa cơm nóng ăn với mắm cá thu chưng. Người viết chưa dám khẳng định, nhưng dẫu sao cũng có thể nhận định rằng món mắm cá thu được chế biến theo kiểu của người Sài Gòn, với bản hoà tấu của gia vị tiêu, ớt, tỏi và rau thơm, khế, chuối chát… và một ít thịt ba rọi luộc cắt lát mỏng thì có thể “cứu khổ cứu nạn”!

Bài và ảnh: N.TR
Theo SGTT
[Read More...]


Bống kho sông Trà



Thiên nhiên không ưu đãi, nên người miền Trung chịu thương chịu khó để có cái ăn. Qua thời gian, các món ăn trong những bữa cơm đạm bạc đó lại có những món đã trở thành đặc sản mà khiến người dân vùng miền khác phải ngưỡng mộ.
“Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu”
Có bốn đặc sản ở Quảng Ngãi được kết vần thành điệu: “chim mía Xuân Phổ, kẹo gương Thu Xà, cá bống sông Trà, mạch nha Mộ Đức”. So với các đặc sản kia thì xem ra món cá bống sông Trà kho tiêu được nhiều người thích nhất bởi nó không kén người ăn.

Cá bống sông Trà chính hiệu

Ở sông Trà cũng có nhiều cá bống nhưng để có món cá bống kho tiêu hảo hạng, nhất thiết phải là con cá bống cát sống ở giữa sông. Khoảng tháng tư, tháng năm âm lịch, cá bống nhiều nhất. Lúc này cá nhiều trứng, mập nung núc. Bà Tình, chủ quán cơm Cây Gòn trên đường Bà Triệu (Quảng Ngãi) cho biết, trứng cá bống trôi từ đầu nguồn trên núi xuống đến khúc giữa sông thì nở thành cá. Cá bống sống ở giữa đoạn từ cầu xe lửa trên núi chảy thẳng ra biển. Nước sông Trà trong, con cá bống lủi dưới cát trắng nên thịt dai, thơm, mình thon cỡ ngón tay út. Đó là cá bống sông Trà chính hiệu.

Ngay cả bà Tình với hơn 20 năm trong nghề kho cá bống bán cũng không biết con cá bống sông Trà nổi tiếng từ bao giờ. “Ngày xưa, chỉ cần ra sông dùng vợt vớt một lần được cả tô cá. Nhưng từ khi làm cái cầu nước cạn, cá bống ở sông Trà đang ít đi”, bà Tình tiếc nuối.

“Anh đi anh nhớ quê nhà…”

Món canh chua cá bống ngon, nhưng kho tiêu vẫn là ngon nhất. Muốn kho tiêu thật ngon thì con cá phải còn sống. Cho cá vào rổ xát với muối cho sạch vảy. Như món cá kho tiêu khác, cũng ướp cá với chút đường, nước mắm, muối, tiêu, bột ngọt… cho thấm trước khi kho. Nghe đơn giản nhưng phải biết cách kho nếu không cá nát hết. Nhưng để cho ra món cá kho đặc sản đúng hương vị xứ Quảng thì phải dùng các đặc sản xứ Quảng như nước mắm Kỳ Tân, đường trắng An Thới, tỏi Lý Sơn, tiêu rừng vừa thơm vừa cay. Có lẽ vì vậy mà tại Sài Gòn chỉ bán món cá bống sông Trà đã được kho sẵn.

Con cá bống được kho quéo lại, thịt săn chắc, không cứng, không mềm. Và kho cá ngon nhất vẫn là kho bằng cái trách đất, sanh đất, niêu đất… bất cứ thứ gì bằng đất nung để các hương vị được chất thổ dẫn truyền, quyện vào nhau tạo ra một hương thơm quyến rũ.

Thêm vài trái ớt hiểm để nồi cá thêm bắt mắt, kho cá nhà sau hương thơm đã lan ra ngoài ngõ ngào ngạt. Món cá bống kho tiêu ăn với cơm trắng, thêm dĩa rau muống luộc chấm với nước cá kho – đơn giản vậy mà hết… ý. Hoặc chỉ cá bống kho tiêu ăn với cháo trắng, toát mồ hôi cũng đã rồi. Ăn phải con cá bống có đùm trứng vàng thì lại thêm vị béo bùi thật tuyệt.

Bà Tình cho biết, cá bống kho tiêu giữ được cả tháng, kho xong dưới mười ngày ăn rất ngon. Ban đầu quán Cây Gòn kho cá bống bán kèm cơm, thực khách khen ngon mua về nhiều dần dần quán cơm phát triển thành cơ sở như bây giờ. Mỗi lần quán kho 30 sanh, một sanh hơn một ký cá. Kho năm ba bữa, đợi cá khô rồi cho vào hũ bán đi khắp nơi, cả xuất sang nước ngoài.

Có vậy nên người Quảng Ngãi cải biên: “Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu”.
BÀI VÀ ẢNH: MINH CÚC
Theo Sgtt
[Read More...]


Mắm dưa gang



Dưa mắm có thể làm từ nhiều loại như dưa chuột, dưa leo… nhưng mắm được làm từ dưa gang là phổ biến nhất, bởi sự giòn, thơm và để được lâu hơn.

Dưa gang dùng để làm mắm là dưa còn xanh, vỏ dày, dài cỡ hơn gang tay. Thân trái thon thả, không phình lớn ở giữa, phần ruột càng đặc càng ngon. Dưa hái vô, rửa sạch, cắt bỏ cuống, để nguyên vỏ, chẻ dọc dưa làm hai, dùng một cái muỗng cạo bỏ phần ruột cho sạch hạt. Trải dưa ra nong phơi nắng khoảng 5 – 6 tiếng cho dưa héo. Sắp đều dưa vào hũ sao cho dưa chỉ chiếm khoảng 3/5 thể tích. Sau đó, dùng một tấm mê rổ hoặc nan tre mỏng cài dằn lên mặt để chắc chắn dưa sẽ chìm xuống dưới mực nước khi ngâm. Ngâm dưa trong dung dịch muối – đường theo tỷ lệ 300g muối/kg đường khoảng 20 ngày, sau đó vớt dưa muối ra để ráo. Tiếp tục ngâm dưa bằng nước mắm ngon cũng bằng thời gian đó là có thể dùng được. Cách muối dưa đơn giản hơn là cứ mỗi lớp dưa rắc lên một lớp muối hột mỏng. Sau 15 – 20 ngày lấy ra, rửa lại dưa bằng nước ấm cho sạch muối, để ráo rồi xếp lại vào một lu hũ khác, cũng cài chặt rồi châm nước mắm. Tuy cách sau khiến dưa có độ giòn và đẹp hơn nhưng vị lại mặn.

Người miền Nam thường trộn thêm đường, tỏi, chanh, ớt vào dưa mắm để ăn cho bắt cơm. Nếu ăn cháo trắng hột vịt muối mà thiếu dĩa dưa mắm thì cháo cũng bớt ngon. Còn đôi lúc giáp hạt, ngại đi chợ, chỉ cần vài trái dưa muối, xắt lát thật mỏng, rửa sạch, vắt khô, trộn vào chén nước mắm chua ngọt, thêm một ít dầu phi hành bỏ tiêu cho thơm là có món ăn với cơm nóng khỏi chê.

NHƯ TRẦN
Theo SGTT
[Read More...]


Dế rang mùa lụt





Thời trân hay mùa nào thức nấy là một trong những đặc điểm của văn hóa ẩm thực Việt Nam. Đồng thời trong từng mùa ấy mới có từng món ăn đặc sản khiến cho người ta rạo rực, thích thú, tìm mọi cách thỏa mãn cái “tứ khoái” đầu tiên của trần tục và mong mỏi đến thời gian năm sau, cũng lại tiếp tục thuởng thức món ngon nhớ đời. Những người dân sinh sống ở lưu vực sông Vu Gia quê tôi hẳn trong đời đã đôi ba lần có dịp mãn khẩu món dế rang từ thiên nhiên ban tặng trong mùa lụt khi không còn món mặn nào đưa cơm. Tôi thầm nhủ, nhiều nơi khác chắc dễ gì có được!

Trong mùa lụt đầu, độ trung tuần tháng 8 âm lịch trở về sau, dòng nước đục ngầu vàng màu phù sa cuồn cuộn dâng cao lên đến hơn 10 m bắt đầu tràn bờ và chảy lấp đầy những vùng trũng thấp của cánh đồng đất biền mênh mông như một quy luật giản đơn của tạo hóa mà Lão Tử đã khái quát thành triết lý nhân sinh trong Đạo đức kinh. Người dân địa phương gọi đó là “nước băng bàu”. Nước chảy lênh láng trên mặt đất, len lỏi qua từng khóm cây bụi cỏ, chui tọt xuống các hang cùng hốc. Chỉ mươi phút sau, trên mặt nước bạc sóng sánh ánh vàng ấy, biết bao lũ dế đeo bám đầy trên các ngọn ớt cuối mùa đã trụi lá hay những cây bắp đang đến mùa thu hoạch để mong tìm sự sống sót. Đấy cũng là thời điểm mà mọi người bắt đầu đổ ra lội nước để bắt dế. Người thì đeo bầu vịt, kẻ thì mang xô, xách giỏ; thậm chí ai đó đang đi “thăm lụt” về cũng vội ghé vào bứt vài cộng cỏ trâu, buộc gút một đầu làm dụng cụ “đựng” dế. Người người hối hả, vì ai cũng biết rằng(,) phải khẩn trương để kịp quay về nhà khi nước lụt còn ngang người và đám dế kia chưa nhảy bám lên cao. Việc bắt dế như vậy vừa “cải thiện” bữa ăn mùa mưa lụt vừa là “thuốc sinh học” hiệu quả tiêu diệt loài dế phá hoại cây trồng ở vụ đông xuân tiếp theo.

Dế mang về đem vặt râu, cánh, phần cẳng chân răng cưa rồi nặn ruột cho sạch chất bẩn. Xong đem rửa sạch và để cho ráo nước. Từng con dế cơm nhìn càng béo tròn hơn khi vặt bỏ những phần phụ ấy. Váng mỡ từ trong ruột dế hòa vào thau nước rửa tạo thành từng mảng màu tươi sắc và bắt mắt. Chỉ mới nhìn vậy thôi mà trong đầu đã hình dung ra vị béo trơn tuột nơi đầu lưỡi, nước bọt đã tiết ra thấm ướt hai mép tự bao giờ. Không tài nào cưỡng nỗi, tụi nhỏ chúng tôi, mỗi đứa vội vàng bốc lấy một con, xiên vào que tre và đưa vào bếp củi đang đun để nướng. Con dế nhanh chóng teo quắt lại kèm theo tiếng “nổ” li ti mà lắng lòng lắm mới nghe được. Màu nâu vàng nguyên thủy từ từ chuyển sang màu nâu đậm. Một mùi thơm đặc trưng của côn trùng nướng nơi hỏa cung dần theo làn khói lan tỏa, chạm vào mũi làm ta sực tỉnh. Thị giác và thính giác nhường chỗ cho khứu giác ngất ngây cảm nhận. Tay vội vàng rút que xiên ra khỏi bếp lửa như sợ Táo quân tranh mất. Tất cả đều chạy tót lên trước hiên nhà, lấy đôi dép làm ghế ngồi, thả hai chân xuống chao chao trong biển nước bạc và bắt đầu chậm rãi nhâm nhi con dế nướng theo kiểu bò tùng xẻo. Đầu tiên từ cái đầu vuông vuông như một cỗ máy điện tử, rồi đến hai bắp đùi tròn chắc có vẻ “đá được xe” và cuối cùng là cái mình mềm nuột đến mát mịn chân răng. Nào mùi thơm, nào vị ngọt hòa lẫn cùng cái béo hơi hơi mà nguyên chất trọn vẹn với những thanh âm giòn tan trong vòm miệng làm cho ta không dám nuốt vội, chỉ từ từ thưởng thức và cảm nhận về sự kì diệu của phương pháp làm chín thức ăn đầu tiên trong lịch sử loài người.

Khi chưa dứt dòng suy nghĩ mông lung xa vời, tôi đã nghe những tiếng xèo xèo ở bếp nhà dưới, biết là mẹ đang rang dế để chuẩn bị thức ăn mặn cho bữa cơm trong những ngày mưa lụt. Ở quê tôi, người dân không gọi là rang dế mà gọi là xào dế. Tôi chưa biết từ nào dùng chính xác hơn, nhưng sâu thẳm trong con tim về hồn quê vẫn in đậm cái tên “dế xào”. Nói cho có vẻ khoa học, hay mang màu sắc văn hóa ẩm thực - kỹ thuật chế biến dế rang thật đơn giản, không một chút cầu kì. Hạn chế sử dụng gia vị để giữ chân nguyên hương vị của dế nhờ ăn đọt non, uống sương trời, ngủ hang đất. Cho dầu mỡ vào chảo đun nóng, bỏ chút hành hương phi thơm, sau đó cho dế vào. Người nội trợ không nên dùng đũa bếp đảo đều dế mà cầm cán chảo vung - lắc - xóc lên như người Bắc chế biến món cơm rang cho dế thấm đều dầu mỡ. Tiếp theo rưới một ít nước mắm và thêm chút ớt bột lên mình dế rồi lại đảo một lần nữa theo hình thức trên. Xong đậy nắp vung trong khoảng một phút để lấy hơi làm dế chín đều rồi bỏ nắp vung ra. Đun lửa vừa thêm vài phút là có một món mặn tuyệt vời.

Nhìn những con dế rang vẫn giữ nguyên hình dáng ban sơ được sắp đầy trên đĩa, tôi không tài nào ngăn được “cái sự thèm”, dòng nước bọt đang tự nhiên tiết ra. Gắp một con dế rang đặt lên miệng bát cơm trắng đang bốc khói, hương thơm của nó lẫn vào làn hơi đưa thẳng đến mũi, cho ta tận hưởng một vị quê mùa thật dân dã mà mấy ai tả được. Ngậm nguyên một con dế rang trong khoang miệng, ban đầu ta cảm nhận trơn mướt bờ môi, vị đậm đà của nước mắm thấm tận chân răng, vị cay cay của ớt rần rần nơi đầu lưỡi. Hai hàm răng khép chặt, một cơ lực đè ép lên mình dế, cảm giác có một âm thanh giòn tan của đầu dế rồi đến dai dai của bắp chân và mềm mềm của phần thân. Không có một món rang nào có thể cho ta đầy đủ các cảm giác đến như vậy! Chưa kịp thưởng thức cái vẻ giòn, dai, mềm của thịt dế thì vị beo béo nhẹ nhàng và cái ngòn ngọt thanh thanh từ trong thân dế đã tan ra thấm khắp trong khoang miệng. Tôi vội vàng và một đũa cơm rồi nhai đều để trộn lẫn thức ăn mang tính tổng hợp của đặc trưng văn hóa ẩm thực Việt, đưa hỗn hợp thức ăn xuống dạ dày thật khoan khoái, cho thỏa cái “vất vả” - mà bọn trẻ chúng tôi rất ưa thích - là ngâm mình trong nước lạnh và bị kiến đốt khi bắt dế về làm món rang. Trong tiết mưa lụt, trời se se lạnh, tốn nhiều năng lượng cho việc dẵm nước chơi lụt, chỉ một món dế rang thôi mà đã “ngã” biết bao bát cơm. Song, tôi vẫn thích nhất dế rang với nước mắm cái được muối từ tháng 3 tháng 4 âm lịch cho thêm phần đậm đà và đượm bản sắc Quảng Nam!

Đã hơn 15 năm, tôi chưa có dịp chơi lụt nơi quê nhà và đặc biệt chưa được thưởng thức lại món dế rang đã gắn với tôi suốt thời niên thiếu. Nơi đô thị vào lúc tiết trời mưa lụt, tôi lại nhớ về món dế rang ngày xưa mà lòng bâng khâng khôn xiết. Bây giờ mới hiểu được lý do tại sao một vị quan Trung Quốc treo ấn từ quan để trở về quê nhà chỉ vì nhớ day dứt một hương vị món ăn dân dã.

Nguyễn Hoàng Thân
Theo Nguyễn Xuân Diện blog
[Read More...]


Canh môn



Mùa mưa tới, những bụi khoai môn mập mạp vươn mình xanh ong óng một góc vườn nhà. Đừng tưởng chỉ có củ khoai môn to tròn tơi bở mới nấu được món canh ngon, với tôi đáng nhớ nhất là bát canh môn mẹ nấu từ những dải môn dài cong cong như vòi voi.
Canh môn vốn là món ăn của người Mường xứ Thanh. Sau này khi nấu cho chị em tôi ăn, mẹ đã “biến tấu” đi đôi chút nhưng vẫn giữ nguyên cái hương vị núi rừng mộc mạc ấy. Góc vườn nhà tôi, những bụi khoai môn no nước lúc nào cũng xanh um mập mạp, cầm dao cắt một loáng là đủ một nồi canh. Nhưng phải chọn những nõn môn non nhất, hoặc dải môn nhỏ xíu bằng đầu đũa toàn thân phủ một màu tím biếc. Những vòi voi xinh xinh ấy được bóc sạch bẹ, cuộn tròn thành từng bó rồi sắp vào nồi. Canh môn ngon nhất là nấu cùng với da trâu.
Ngày xưa ở các bản Mường, cứ mỗi lần mổ trâu, mổ bò, phần da lại được lọc ra để lên gác bếp. Những miếng da trâu đã khô lại ong óng nướng trên than hồng thơm lựng, thái nhỏ ra nấu cùng canh môn thì không còn gì hấp dẫn hơn. Nhưng món canh môn da trâu ấy có lẽ chỉ còn đọng lại trong ký ức. Giờ đây mẹ nấu môn với thịt bò, loại bạc nhạc nhiều gân là ngon nhất. Từng bó môn cuộn tròn trong nồi được đun lên thật lâu với thịt bò, đậu đen cho đến khi mềm quánh thì lấy đũa cả đánh tơi, nêm thêm ít mẻ chua, mắm tôm cho dậy mùi. Canh chín, rắc thêm vài sợi lá chanh, mùi tàu là hoàn chỉnh.
Bát canh môn sóng sánh, những dải môn vòi voi giờ ngả sắc vàng nâu, tơi mịn sánh quyện vào nhau. Ẩn hiện những lát thịt bò hồng hồng quyến rũ, sắc đen anh ánh của hạt đỗ đen to tròn lay láy và loáng thoáng những sợi lá chanh, mùi tàu xanh biếc. Ăn canh môn lần đầu tiên, có lẽ sẽ hơi ngại ngần cái vị ngai ngái vấn vít trong cổ họng. Nhưng một vài lần thì đâm “nghiện”. Vị béo của môn đậm đà mà thanh tao, thịt bò thơm mềm ngọt đậm. Húp một hơi, lại bắt gặp cái bùi bùi nha nhẩn của hạt đỗ đen. Mỗi lần nấu canh môn, mẹ thường nấu một nồi to, vậy mà đến cuối bữa chẳng bao giờ còn sót lại.
Ăn canh môn mẹ nấu từ hồi bé, nhưng mãi khi đi học xa nhà tôi mới vỡ lẽ rằng hóa ra bát canh ngọt ngào ấy chỉ có ở nhà mình. Để rồi mỗi khi nhớ mảnh vườn nhà quanh năm xanh mướt, lại nhớ da diết bát canh môn giản dị mà đậm đà từ bàn tay của mẹ.
Tịnh Tâm
Báo Thanh Niên
[Read More...]


Mùa rạm ở Sài Gòn




Con rạm có mặt từ Nam chí Bắc, nhưng mùa rạm mỗi nơi mỗi khác. Ở trong Nam, cứ khoảng tháng 10 âm lịch hằng năm, rạm xuất hiện nhiều, tràn ngập từ chợ quê lên thành phố. Nên Sài Gòn lúc này đang vào mùa rạm

Người Sài Gòn có người còn chưa biết đến chữ “rạm” có nghĩa là gì, huống hồ chi biết đến mùa rạm. Thế nhưng những ngày này, ngay cả những khu chợ nhỏ xíu trong hẻm cũng có vài hàng bán rạm còn tươi nguyên, cứ nháo nhào chạy quanh trong chiếc thau nhôm móp méo.
Người biết ăn, thấy món rạm thì không ngần ngại mua một ít về đổi món cho cả nhà.
Rạm nhỏ hơn cua đồng, vỏ cũng mỏng hơn, mình dẹp và cũng không hung hăng như cua đồng. Thế nên người mua chỉ cần sà vào, mạnh dạn dùng tay lựa mà không sợ bị kẹp. Người sành ăn lại chuộng rạm hơn cua, vì rạm nhiều gạch, thịt ngọt và béo. Nếu lựa cua, người ta thường lựa con đực để được nhiều thịt thì với rạm, các bà nội trợ lại chuộng con cái. Vì rạm cái vỏ mềm, lại nhiều gạch. Mà rạm thì thường ăn luôn cả vỏ, không xay ra như cua.
Có nhiều món ngon từ rạm, nhưng đa phần đều bắt đầu bằng việc rang hoặc chiên, nướng, để con rạm giòn lên, ăn cả vỏ vừa ngon vừa giàu can-xi. Món rạm nướng muối rồi thêm ít lá chanh thái chỉ thì vừa thơm nhức mũi vừa là món đưa cay tuyệt vời. Đơn giản hơn nữa thì chỉ cần lăn bột, chiên giòn rồi chấm nước mắm tỏi ớt hay tương ớt, muối tiêu chanh, món rạm lúc này ngon hơn cua lột chiên giòn vì chắc thịt hơn mà béo không thua gì cua lột.
Ở quê lúc vào mùa, rạm theo con nước cứ dập dềnh nhiều không kể xiết. Ăn không hết ngay, người ta thường giã nhuyễn rạm, thêm muối rồi cho vào lu khạp làm thành mắm ăn dần.
Các bà nội trợ mua rạm về thì thường tận dụng, bẻ chân bẻ càng giã nhuyễn lọc lấy nước nấu canh rau đay, phần thân mới rang hay rim, hoặc ram lên làm món mặn. Đôi khi chỉ cần chao qua chảo ngập dầu rồi thêm tỏi, sả, ớt vào xào là có món rạm cay cay bùi bùi ngon tuyệt.
Mà các bà giàu kinh nghiệm thì không thấy cái phần lầy nhầy đen bóng xấu xí ở mai rạm mà bỏ đi, vì đó chính là trứng rạm, khi nấu chín đóng lại thành miếng đỏ au, chắc nịch, béo còn hơn gạch. Cái béo của rạm chính là thứ làm nó “ăn đứt” cua đồng, dù cùng giống cùng loài.
Thực hiện Hoa Cúc
Rạm ram lá lốt
Khẩu phần 4 người.
Mức độ Dễ
Thời gian chuẩn bị 10 phút
Thời gian chế biến 10 phút
Nguyên liệu500g rạm
50g lá lốt
1 thìa cà phê tỏi băm
2 thìa súp dầu ăn
1 thìa cà phê nước mắm
1/2 thìa cà phê hạt nêm

Thực hiện
- Rạm xóc trong nước nhiều lần cho sạch vỏ. Xé để mai riêng, bóc bỏ yếm. Bỏ hoặc để nguyên càng tùy ý
- Ướp rạm với nước mắm và hạt nêm. Xóc cho đều. Không ướp mặn vì rạm đã mặn sẵn
- Phần mai rạm, dùng tăm nhọn chòi lấy gạch và trứng, cho trở lại vào con rạm
- Lá lốt rửa sạch, xắt sợi
- Phi thơm tỏi với 1 thìa cà phê dầu ăn, xếp rạm vào, để lửa vừa cho rạm chín và vỏ giòn
- Rắc lá lốt vào, rưới thêm dầu ăn, đảo đều, tắt bếp.
[Read More...]


Chè hoa cau: Món quà thanh tao của người Tràng An




Cái vị ngọt thanh thanh, cùng hương hoa bưởi nhẹ nhàng hòa quyện đã khiến cho bát xôi chè trở thành món quà quen và đặc trưng của người Hà Nội.
Nhìn bát chè hoa cau nhỏ xinh, được bày biện thật thích mắt, ấy vậy mà những nguyên liệu làm nên bát chè khá giản đơn và mang đậm hương vị quê hương với bột sắn, nước dừa, hoa bưởi, đậu xanh. Tuy vậy, chè hoa cau được chế biến hết sức tỉ mẩn và người chế biến cũng phải rất tinh tế thì mới cho ra được bát chè hoa cau đúng hương vị của nó.


Theo bí quyết của người Hà Nội, đỗ dùng để nấu chè phải là loại đỗ hạt tiêu tuy nhỏ nhưng vàng và thơm, hạt đầy thịt, không bị lép. Bột năng thì cho nước vào quấy tan, lọc lại cho bột mịn. Phải đun lửa liu riu và thao tác khuấy bột cũng phải thật đều tay, thấy nước hơi sánh lại là ngừng ngay để bột không bị quá già mà cũng không quá non. Vừa khuấy, vừa trộn với hỗn hợp nước được nấu với hoa bưởi, đỗ xanh vào thật đều tay. Nếu người chế biến chỉ cần sơ ý khuấy già tay một chút, món chè sẽ đánh mất hương vị tự nhiên của hoa bưởi.
Chè hoa cau bao giờ cũng có độ ngọt thanh vừa phải. Bát chè múc ra phải đạt được độ sánh mượt cần thiết cùng những hạt đỗ xanh đồ chín tới. Đỗ rắc khéo để không chìm, không vón cục mà chỉ lơ lửng như hoa cau vàng ươm, nhẹ nhàng, tinh khiết. Người Hà Nội xưa còn hết sức tỉ mỉ trong công đoạn trình bày. Chén múc chè phải làm nóng trước, úp mấy bông hoa bưởi mới nở, sao cho hương hoa bám vào chén chè, thơm nhẹ nhàng và ý nhị, để hương hoa bưởi hài hòa thấm đượm vừa đủ cả trong chè lẫn bát chè.
Cuối cùng, chế nước dừa thắng lên mặt những bát chè nồng nàn hương hoa, để màu trắng đục của nước dừa quyện vào cái thanh, cái ngọt của vị chè làm mát lạnh lòng người thưởng thức. Mỗi bát chè nhỏ xinh với hương thơm nhẹ lan tỏa, cùng đĩa xôi vò vàng ươm, vị bùi bùi, đậu nhiều hơn đỗ. Món chè hoa cau chỉ thưởng thức bằng bát nhỏ, để cảm nhận cái hương cái hoa, cái vị thanh ngọt nồng nàn khó quên của món chè.
Người ta thường ví món chè hoa cau như người Hà Nội, nhẹ nhàng thanh tao nhưng thật nồng nàn và khó quên. Người Hà Nội sành ăn lắm, mùa nào thức ấy, họ chọn những thức ăn đầu mùa, thật tươi, thật ngon để thưởng thức. Còn những thức ăn trái mùa người Hà Nội thường không để ý tới. Và ngay cả trong một ngày, có thứ quà người Hà Nội chỉ dùng trong buổi sáng, có thứ lại chỉ dùng cho buổi tối. Như món chè hoa cau, người Hà Nội thường dùng làm bữa ăn nhẹ vào buổi chiều. Chả thế mà đã có không biết bao nhiêu vần thơ, câu văn miêu tả tràn đầy xúc cảm về những gánh hàng rong rong ruổi khắp phố phường Hà Nội với những món ăn chơi trong buổi xế chiều. Hình ảnh chị bán hàng rong giữa dòng người tấp nập, ngồi góc phố cổ, tay múc bát chè hoa cau nóng hổi với hương thơm nhẹ mà lan tỏa, với đĩa xôi vò đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Hà Nội và của mỗi vị khách du lịch khi đến với thành phố văn hiến này.
Cho dù món chè hoa cau của người Hà Nội xưa có nhiều thay đổi, thì cái hồn của bát chè hoa cau, cái tinh túy của ẩm thực Hà thành vẫn còn được lưu giữ, để món quà thanh tao ấy luôn là nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Tràng An. Món chè hoa cau Hà thành đặc biệt ở cái khéo léo của người chế biến, sự tinh tế của người thưởng thức và ở cái tình của người trao người nhận.
Theo Tạp Chí Ẩm Thực
[Read More...]


Canh thụt – món ngon của người Mnông, Đắc Lắc



Nhắc đến văn hoá ẩm thực của đồng bào dân tộc Mnông, người ta thường nghĩ ngay đến những món ăn quen thuộc như: Cơm lam, thịt gà nướng, thịt hun khói, đọt mây… nhưng có một món ăn còn ít người biết tới, đó là canh thụt.
Chuẩn bị nguyên liệu để nấu canh thụt
Theo nhiều già làng kể lại, món ăn này có từ rất xa xưa. Khi lên rẫy, bà con có thói quen dùng bữa trưa ngay tại rẫy để tranh thủ thời gian lao động, nên tìm cách cho gạo và thức ăn vào ống tre để nấu, vừa thuận tiện lại vừa thơm ngon.

Ngày nay, mỗi khi mùa lễ hội đến hay vào dịp đón khách quý, những thiếu nữ Mnông phải lên rừng trước một ngày tìm nguyên liệu để làm canh thụt. Bây giờ ở nhiều nơi, người dân đã bán những nguyên liệu này. Ít nhất, có 10 loại nguyên liệu như: da bò khô, lá nhíp, cà đắng, đọt mây, ớt xanh… được dùng để chế biến canh thụt.
Đầu tiên, da bò khô sẽ được nướng cho mềm, đọt mây sẽ được tước vỏ và bẻ thành từng đoạn nhỏ, lần lượt các nguyên liệu sẽ được cho vào một ống để đun. Trước kia, người dân thường dùng cây lồ ô để làm ống đun canh thụt, nay ống bằng kim loại đã được sử dụng nhiều hơn.
Thưởng thức món ăn đặc sản này, thực khách sẽ cảm nhận được mùi vị rất đặc trưng. Không những thế, đó còn là cách để hiểu rõ hơn về Tây Nguyên không chỉ qua giá trị văn hoá, mà còn cả nghệ thuật ẩm thực.
Theo VTV
[Read More...]


Cá bống kho riềng – đặc sản ẩm thực Đắc Lắc



Cá được mang lên, còn tươi nhảy lao xao, con nào con ấy bé tròn, họ xả cho sạch nhớt trên mình và bỏ vào ít muối ướp cho cứng lại, sau đó đi đào lấy ít riềng rửa sạch giã nhỏ. Bây giờ chỉ còn việc bắc chảo cho nóng, và cho vào đó ít dầu ăn, hay mỡ đun cho sôi lên, cho cá vào chiên vàng, đổ riềng đã chuẩn bị sẵn. Mùi riềng, mùi cá bốc lên thơm ngào ngạt…

Ðến với Đăklăk là đến với những cánh rừng đại ngàn cùng những đồi, núi, dốc đèo chập chùng, vẻ hùng vĩ uy nghi của nó đã làm nhiều người mới đến lần đầu cảm thấy ớn lạnh. Nhiều người lầm tưởng nơi đây quanh năm suốt tháng người dân chỉ biết ăn cá khô từ các tỉnh đồng bằng mang lên. Nhưng thực chất nơi đây có nhiều món ăn thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống.
Đến với Đăklăk bạn không chỉ được ngắm thắng cảnh của một vùng rừng mà bạn còn được thưởng thức những lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc cùng những món ăn dân dã mang đậm hương vị của núi rừng Tây Nguyên. Món cá bống thác kho riềng là một món ăn có tính truyền thống của người dân tộc nơi đây. Cá bống là loại rất phổ biến, nó sống trong các kênh rạch, ao hồ, sông suối nơi đâu cũng có, nhưng cá bống Tây Nguyên thì lại khác, nó sống ngay trong dòng thác đổ. Các con thác Tây Nguyên ngày đêm gầm rú hòa vào âm sắc của núi rừng Tây Nguyên đại ngàn những bản hòa tấu vang động. Trong dòng thác đó tưởng như không còn loài sinh vật nào có thể sống được. Vậy mà cũng Åcó loài chỉ sống nơi những ngọn thác đổ ào ào, đó là cá bống thác. Loại cá này chỉ thích nghi với môi trường nước đổ từ cao xuống, mình bé và trắng, thân tròn săn chắc như ngón tay. Nó không sống được nơi nước lặng có bùn như loại bống mủn, bống mít dưới đồng bằng.
Tháng ba nắng gió Tây Nguyên gắt gao hơn, các con thác vơi nước bớt đi vẻ oai hùng thì cũng là lúc các cư dân người dân tộc thiểu số nơi đây bắt đầu công việc dọn nương để chuẩn bị mùa rẫy mới. Hành trang trên đường đi rẫy, họ chỉ cần ít gạo và dụng cụ nấu ăn, còn thức ăn sẽ đi xuống những thác nước lấy rổ luồn vào khe đá những chỗ nước chảy xiết để bắt loại cá này. Cá được mang lên, còn tươi nhảy lao xao, con nào con ấy bé tròn, họ xả cho sạch nhớt trên mình và bỏ vào ít muối ướp cho cứng lại, sau đó đi đào lấy ít riềng rửa sạch giã nhỏ. Bây giờ chỉ còn việc bắc chảo cho nóng, và cho vào đó ít dầu ăn, hay mỡ đun cho sôi lên, cho cá vào chiên vàng, đổ riềng đã chuẩn bị sẵn. Mùi riềng, mùi cá bốc lên thơm ngào ngạt, đợi riềng và cá quyện vào nhau, lúc này họ mới cho mắm muối và các gia vị: hành, tiêu, ớt, đường và bột ngọt tạo độ vừa ăn.
   Mùa làm rẫy nắng nóng người làm rẫy về trưa đã thấm mệt. Mùi thơm của cá bống thác kho riềng bốc lên thơm ngào ngạt làm cồn cào cái dạ dầy mà suốt sáng tới giờ nó đã phải làm cái việc chuyển hóa năng lượng, nhắc nhủ họ tìm đến những gốc cây kơnia gần đó để dùng bữa trưa đạm bạc mà thanh nhã. Cơm gạo lúa rẫy chín tới, cá bống thác kho riềng vừa xong, mùi hương của cơm, của cá quyện vào nhau thơm đến lạ lùng, chỉ núi, rừng Tây Nguyên mới có được. Bới chén cơm gắp con cá, và vào miệng cá bống thác giòn tan, thấm vị giác, mùi thoảng lên khứu giác thật là một cảm giác khó quên trong những ngày làm rẫy. Cơm đó, cá đó ăn với canh cà tím quả tròn, nhỏ mọc ven suối thật là món ăn quê nhưng lại không đâu có. Cơm trưa xong, nghỉ mát dưới bóng cây kơnia, cái gió Tây Nguyên làm vơi bớt cái nắng như thiêu như đốt làm cho người làm rẫy chìm vào giấc nghỉ trưa thanh bình và cái mệt nhọc của một buổi lao động nhờ đó cũng tan đi.
Theo Saigonnet
[Read More...]


Đặc sản Cá Lăng nướng than




Trong các món đặc sản của núi rừng, nhiều du khách rất thích món cá lăng nướng than hồng. Người dân ở đây thường bọc cá lăng trong một loại lá rừng rồi mới đem nướng. Cá lăng được đánh bắt từ dòng sông Sêrêpôk, thịt cá không chỉ ngọt mà còn dai và thơm phức. Thêm một ống cơm lam, một đĩa gà nướng là bữa ăn của bạn đã mang đậm “chất” đại ngàn.
Cá lăng nướng
Thơm ngon hương vị cá lăng
Cá lăng (tên khoa học là Hemibagrus elongatus) là tên gọi một loài cá trong họ Cá lăng, bộ Cá da trơn. Cá lăng là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất, trong tự nhiên đã bắt được những con từ 40 – 50 kg. Đây là một loài cá không có xương dăm, thịt rất ngon nên rất được ưa chuộng. Ở Hà Nội, từ xa xưa đã nổi tiếng món chả cá Lã Vọng… Ở Đắk Nông, cá lăng có nhiều trên sông Đồng Nai, sông Sêrêpốk… và hiện có mặt ở hầu hết các Nhà hàng lớn tại thị xã Gia Nghĩa, huyện Chư Jút, Krông Nô, Đắk Glong…

Chả cá lăng chín vàng nổi màu men cánh gián chỉ nhìn thôi đã thấy hấp dẫn
Dưới đây xin giới thiệu một số món chế biến từ cá lăng mà thực khách hai miền Nam – Bắc ưa dùng, đó là chả cá lăng, cá lăng om chuối và cá lăng nướng.
Để có miếng chả cá thơm ngon, nhà hàng phải kén những con cá lăng đen khỏe, vừa chắc thịt, ít xương lại ngọt. Cá được lọc bỏ sạch da và xương, thái miếng khuôn hoặc hình chữ nhật rồi tẩm ướp gia vị gồm nước cốt của riềng, nghệ quyện với mẻ, mắm tôm, nước mắm trong khoảng 1 giờ. Khi gia vị đã ngấm sâu vào từng thớ thịt của cá, xếp từng miếng cá vào vỉ, sau đó phết một lớp dầu và nướng trên than hoa. Người đầu bếp phải nhanh tay lật giở cho đến khi nghe thấy tiếng xèo xèo của mỡ, cá chín vàng nổi màu men cánh gián, dậy mùi thơm thơm của thịt, của mẻ, ấy là lúc có thể lấy ra thưởng thức. Mắm tôm được lựa chọn rất kỹ, phải là loại mắm cá chất lượng tốt nhất, dậy mùi thơm và phải ngọt đậm đà. Khi ăn kèm với hành, thì là, một chút lạc rang sẽ cho ta một vị đặc trưng.
Món cá lăng nướng cũng tuyệt vời không kém. Khi những viên thịt cá nướng thơm ngậy, vàng rộm được xếp lên đĩa, nổi bật giữa màu xanh của chuối, rau thơm và bát nước chấm sóng sánh đủ sắc, chỉ nhìn thôi cũng thấy ngọt lịm nơi đầu lưỡi rồi. Đặt một miếng cá lăng lên bánh cuốn có sẵn rau sống, lát chuối xanh, khế, dứa, bún cuộn lại chấm nhẹ trong bát mắm đủ vị của tỏi, chanh, ớt đường pha vừa miệng. Tất cả cứ lan tỏa dần trên đầu lưỡi. Vừa ăn, vừa nhâm nhi một chút rượu mạnh cùng cà kê với bạn bè, gia đình thì còn gì thú vị bằng!
Cá lăng nướng ăn kèm bún, rau sống, chuối xanh..
Nếu bạn muốn tìm cho mình một mùi vị thơm ngon của nước dùng, cá lăng om chuối là một lựa chọn thú vị. Màu đặc quánh ánh vàng của nước om, vị béo ngậy của miếng thịt ba chỉ quyện trong vị ngọt của cá lăng và mềm thơm của từng khoanh đậu, khoanh chuối khiến bạn khó có thể cưỡng lại. Để giữ được sự tinh túy và hương vị đặc trưng của món ăn lạ miệng ấy, tất cả phải được chuẩn bị công phu và tuân thủ theo một quy trình chế biến nghiêm ngặt theo công thức bí truyền của nhà hàng.
Không chỉ cầu kỳ trong khâu chế biến, món cá lăng om chuối cũng đòi hỏi sự tinh tế của người biết thưởng thức. Chầm chậm hít hà, húp những thìa nước dùng nóng hôi hổi để cảm nhận trước tiên vị thanh ngọt của món, rồi để hồn mình tan dần theo mỗi miếng cá thơm trong miệng, lâng lâng mùi mẻ quanh quẩn khắp chân răng mới thấy được cái tinh tuý trong thế giới ẩm thực của nơi đây.
Cá lăng om chuối
Ngoài ra, thực khách phía Nam ưa món lẩu cá lăng, còn ở Đắk Lắk, Đắk Nông thì đặc sắc mà dân dã nhất là món lẩu cá lăng nấu lá dang. Đây là loại cây họ dây leo, mọc trong rừng, lá có vị chua thanh, khi nấu với cá, nó làm thịt cá chắc và không còn mùi tanh của cá.
[Read More...]


Lá é cá trích



Một món của người dân tộc thiểu số vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa. Món ăn được làm công phu với nguyên liệu đơn giản, chỉ là cá từ dòng suối trong, lá từ cây rau dại… Ấy thế mà ngon!

Tây Nguyên thường được biết đến với những núi đồi bạt ngàn cây xanh, với rừng già, với tiếng cồng chiêng, tiếng hát vang vọng núi rừng, với những cô gái trong bộ áo váy sặc sỡ hay chàng trai lưng quàng khố, vai đeo gùi và những câu chuyện huyền thoại dựng nước, giữ nước…
Nhưng không chỉ có thế. Ngày nay Tây nguyên còn được biết đến với những món ăn lạ nhưng rất ngon. Đó là những món ăn mộc mạc, mà để thực hiện người nấu chỉ cần ra suối bắt con cá, vào rừng hái nắm lá…
Món ngon đời thường
Với người dân tộc khác thì lá é cá trích là món ăn lạ, ngon và độc đáo. Thế nhưng với người dân tộc Jrai vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa thì đây chỉ là món ăn đơn giản thường ngày. Họ bắt cá trích nơi các dòng suối nước trong văn vắt, mang về xâu lại thành từng xâu, phơi hơi se se rồi gác trên chái bếp, chỗ gần bếp lửa. Khói và hơi nóng hàng ngày sẽ làm thịt cá chắc lại và có mùi khói ám rất lạ.
Cá trích đã khô đem nướng trên lửa than riu riu, cứ nướng một mặt chứ đừng trở nhiều – khác với cách nướng của người Kinh là trở đều hai mặt trong suốt quá trình nướng. Khi cá đã cháy sém một bên, người ta mới lật qua mặt còn lại nướng tiếp. Có thể nói, mọi nguyên liệu và dụng cụ để thực hiện món cá này đều đơn giản đến đáng ngạc nhiên, ngay cả phần vỉ nướng. Người Jrai không dùng vỉ nướng cá mà lấy thân tre chẻ ra như những cái nẹp, kẹp cá rồi dùng chính lạt tre cột ở hai đầu và nướng.
Lá é là loại lá có mùi hương và dáng lá hơi giống rau húng quế của mình nhưng vị nồng hơn và cành cũng như lá nhỏ hơn, khi nhấm thử trong lưỡi thì cả hương lẫn vị đều đậm đà, thơm hơn rau quế. Hiện nay người Kinh có lai tạo và cho trồng ở vườn rau nhưng không có hương vị bằng. Lá có mầu xanh biếc, dáng lá nhỏ như những lá quế còn non.
Khi dùng, lá é được phơi cho héo khoảng 50%, thấy lá sầu sầu là được. Khi đã héo, lá rũ xuống, người ta tước lá khỏi cọng (có người tiếc, dùng cả cọng nhưng cũng không ngon vì cũng chẳng có hương vị gì). Khi cá đã chín vàng đều, gỡ bỏ ruột, đầu, xương, da cá. Thịt cá xé nhỏ, cho vào cối cùng với lá é phơi héo và giã. Khi giã, cho muối hột vào từ từ và giã đến khi lá, cá và muối quện vào nhau, sau cùng thì cho ớt khô và cọng cỏ ngọt.
Mộc mạc mà ngon
Cỏ ngọt cũng là một loại lá cỏ rất đặc biệt của vùng Tây nguyên, chỉ có vào tháng 10 – 11 hằng năm. Lá cỏ lớn hơn lá cỏ gấu. Vào mùa, cỏ nhiều, người Jrai hái và đem phơi khô rồi cứ gác ở chái bếp để dùng quanh năm, khi nhấm thử, vị của lá như bột ngọt nhưng lại là vị ngọt rất tự nhiên. Sau khi phơi khô, người Jrai lấy và giã nhiều lần cho thành bột rồi cất đi để riêng, lúc nào dùng sẽ lấy ra để nêm nếm món ăn, hoặc trộn chung với lá é, cá trích. Thông thường, chỉ khi nào có khách quý người ta mới dùng đến loại cỏ này. Bây giờ đa phần họ dùng bột ngọt thay cho cỏ ngọt, tuy nhiên trong nhà bao giờ cũng trữ một ít bột cỏ khô để dành khi cần đãi khách.
Lá é cá trích thường được dọn với cơm dẻo, dùng như muối mè của người Việt, không phải là gia vị chấm. Gạo để nấu cơm là gạo nương, hạt thô, màu hơi xám, mới nhìn như gạo cũ và có vẻ như mốc, nhưng không phải vậy. Khi nấu, nếu là gạo mới thì rất dẻo, dẻo như cơm nếp. Khi cũ, gạo sẽ se hạt, tựa như gạo thơm dẻo của người Kinh. Dọn kèm món ăn này là những món thịt rừng nướng, nhất là thịt bò nướng theo kiểu người Jrai, rất ngon.
Không phải là một món ăn cao sang, cũng không có một tên gọi hoa mỹ, lá é cá trích mộc mạc như bản chất của người dân tộc thiểu số. Món ăn tuy không đẹp nhưng khi ăn, để lại trong lòng khách một cảm giác thật ngon, ngon vì lạ và ngon vì chính bản chất bình dị, tự nhiên của món ăn… Ngon quá!
Bài & ảnh DZOÃN VÂN
Nguồn: Monngonvietnam
—————-
Chú thích:
Phú Bổn là một tỉnh cũ thời Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9-1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia tỉnh Pleiku ra 2 tỉnh: Pleiku và Phú Bổn. Từ năm 1976, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn diện tích lại được nhập sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum.

Địa lý

Hành chính

Phú Bổn giáp hai tỉnh Pleiku và Bình Định về phía bắc, tỉnh Phú Yên về phía đông, Đắc Lắc về phía nam và tây nam, Pleiku về phía tây. Diện tích toàn tỉnh là 4.822 km². Tỉnh lỵ đặt tại Hậu Bổn (Cheo Reo). Tỉnh có 3 quận là Phú Thiện, Phú Túc (nay là Krông Pa) và Thuần Mẫn.
Quận lị Thuần Mẫn cách Hậu Bổn (Cheo Reo) 15 km về phía tây nam, nay nằm ở vùng giáp ranh hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc.
Sau năm 1975, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn địa bàn tỉnh chuyển sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum, riêng vùng phía nam quận Thuần Mẫn nay thuộc tỉnh Đắc Lắc.

Tự nhiên

Phú Bổn nằm ở cao độ từ 150 m đến 1.000 m, có núi rừng bao bọc chung quanh. Những ngọn núi cao ở đây gồm có Chu Tryan 1.331 m, Chu Kheur 1.088 m; Chu Dju cao 1.230 m, Chu Dlé Ya cao 1.215 m.
Sông chính của Phú Bổn là sông Ba (người Thượng còn gọi là Ia Ba hay Ea Pa), phát nguồn từ núi Ngọc Roo (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), chảy theo hướng bắc-nam, khi tới Cheo Reo thì gặp sông Ia Ayun. Sông Ia Ayun bắt nguồn từ chân núi Kon Lack (thuộc tỉnh Pleiku), chảy vào Phú Bổn theo liên tỉnh lộ số 7. Sông Ba có các sông nhánh chính là sông Ea Thul, phát nguồn từ núi Kong Wan Riom; sông Cà Lúi và sông Ba M’la, phát nguồn từ núi Chu Prong và sông Krong Nang phát nguồn từ núi Chu Dlé Ya. Vào mùa mưa, sông Ia Ayun và sông Krong Nang thêm nước vào sông Ba làm lưu lượng nước chảy mạnh về phía đông nam, cuốn nhiều đất phù sa bồi đắp cho bình nguyên Phú Bổn.

Khí hậu

Khí hậu Phú Bổn có hai mùa mưa nắng, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 3.

Dân số

Tính đến năm 1971, tỉnh Phú Bổn có tổng cộng 69.765 người, đa số là người Jarai và Bahnar.

Giao thông

Liên tỉnh lộ 7 là đường giao thông quan trọng, nối Phú Bổn với các tỉnh lân cận.
[Read More...]


Hấp dẫn hương vị cá tắc kè – Ninh Thuận




Vùng biển Ninh Thuận không những có nhiều bãi tắm đẹp… mà còn nổi tiếng với những món đặc sản rất ngon khiến du khách khó có thể bỏ qua. Một trong số đó phải kể đến cá tắc kè, một loại hải sản rất ngon và bổ dưỡng.
Sỡ dĩ được gọi là cá tắc kè vì loài cá này  gần giống loài tắc kè sống trên cạn, chỉ khác da màu đỏ  và đuôi khá dài. Môi trường sống của loài cá này ở vùng biển sâu, khá xa bờ. Thịt cá  tắc kè tính hiền, nhiều dưỡng chất có thể phù hợp với mọi thể trạng.

Đơn giản và khoái khẩu nhất phải kể đến cá tắc kè nướng. Chọn những con cá còn tươi đỏ, rửa sạch để ráo. Chỉ cần một bếp than đỏ hồng, để trần hoặc bọc vài lá lốt quanh con cá, dùng vỉ để nướng. Khi mới đưa cá vào bếp, lớp da cá vẫn còn mướt. Chỉ mươi phút sau, lớp da đỏ chuyển sang màu nâu đen, cũng là lúc mùi thơm bốc lên ngây ngất. Người ta có thể dùng  gia vị, tỏi, sả và ớt tươi ướp cùng cá trước khi nướng  để thêm phần hấp dẫn, đậm đà.
Món cá tắc kè nướng có thể cuốn cùng bánh tráng và rau sống. Hoặc dùng cải xà lách quấn trực tiếp  cá rồi chấm cùng nước mắm chua ngọt thêm tí gừng. Mấy ai có thể  quên được cái thú tự tay nướng rồi thưởng thức món cá tắc kè ngay trên bờ biển lồng lộng gió.
Những hôm cá tắc kè vào mùa, trong mâm cơm người Ninh Thuận thế nào cũng có món cá  tắc kè  dầm với nước mắm ngon, ăn kèm với rau sống. Ngoài ra, người dân vùng biển  Ninh Thuận thường đãi khách du lịch với món cá tắc kè hấp. Chọn những con tắc kè  còn tươi nguyên  làm sạch, ướp với một ít dầu ăn, gia vị, bột nêm. Cho cá vào đĩa hấp cách thủy. Khi lớp thịt cá mềm mại, tỏa mùi thơm là được.
Cách điệu hơn người ta  còn phi thơm tỏi, cho thịt băm, nấm mèo vào xào. Thêm một chén nước dùng, nước tương, đun sôi tắt lửa, cho ít hành lá vào. Cá hấp gần chín, đổ hỗn hợp mới xào  hấp thêm 5 phút. Món này khi ăn cuốn cùng bánh tráng, các loại rau xanh, chuối chát, khế, chấm với nước mắm tỏi ớt  thì thật là tuyệt.
Các món chế biến từ cá tắc kè tuy đơn giản, bình dân nhưng lại được nhiều người ưa chuộng. Nếu có dịp, bạn hãy đến với vùng biển Ninh Thuận vào mùa cá tắc kè, để được ăn và được nhớ mãi miếng ngon vùng đất này.
Nguồn: Báo Lao Động
[Read More...]


Cháo đùm Bàu He




Thực ra, quán cháo đùm này của chị Trần Thị Hòa chẳng có biển hiệu đâu, khách “ghiền” món cháo đùm nên đặt “chết” tên, gọi riết thành quen vậy thôi. Qua Bàu He ở P.Nghĩa Chánh, TP Quảng Ngãi một quãng, hỏi bất cứ ai về quán cháo này cũng đều biết.
Món cháo đùm
Sao gọi là “đùm”? Vì trong nồi cháo của chị Hòa, bao giờ cũng có… 100 cái đùm. Lá chuối chát được hơ qua lửa cho mềm oặt lại để khi gói khỏi rách, xong bỏ tiết lợn có thêm phụ gia vào, cột lại bằng hai nuột lạt, cũng bằng lá chuối, xong một “đùm”. Trước khi bỏ đùm vào nồi cháo, chị Hòa phải làm một loạt công đoạn mà công đoạn nào cũng thành bí quyết để nồi cháo của chị luôn luôn khác lạ với thực khách. Chẳng hạn như cách ướp tiết lợn với món nghệ và củ nén là cả một kỳ công. Chị bảo: “Cháo đùm này ngon nhờ cách ướp với món nghệ và nén ấy đấy”.
TP Quảng Ngãi có đến vài trăm quán cháo lòng. Ấy thế mà chỉ có quán cháo đùm của chị Hòa này là độc đáo nhất. Từ cách chọn nguyên liệu đến cách chế biến, tất tật đều phải tinh. Chẳng hạn như chỉ có loại heo cỏ (heo nuôi ở quê, ăn rau và cám xay từ lúa chứ không dùng thức ăn công nghiệp) mới được chị chọn để lấy bộ lòng. Thứ heo cỏ này, năng suất thấp nhưng thịt của nó luôn khô vì ít mỡ nên lòng cũng rất thơm ngon. Lòng được luộc lấy nước nấu cháo. 20 kg lòng được luộc lấy nước để nấu cho 2 kg gạo cháo, hèn chi rất ngọt! Còn đùm thì gói trong lá chuối, bỏ vào nồi cháo nên chín bằng hơi chứ không bị ngấm nước cháo vào. Mùi nghệ, mùi nén lẫn với mùi lòng thơm ngào ngạt, một mùi thơm nguyên chất.
Thực khách gọi món cháo đùm, được kèm theo một đĩa lòng, rắc lớp rau húng quế trông thật bắt mắt. Nếu chỉ dùng riêng món cháo, vẫn được, dĩ nhiên là giá chỉ một nửa (hiện nay giá mỗi tô cháo đùm là 20.000 đồng, chưa tính đĩa lòng). Một điều thú vị ở quán cháo đùm chị Hòa này nữa là, mỗi ngày chị chỉ nấu đúng 100 cái đùm, tương ứng với 100 tô cháo. Bất luận mưa hay nắng, đúng 7 giờ 30 mỗi ngày, chị gánh từ nhà ra quán (quán thuê), bán đến 9 giờ là xong. Ai đến sớm hơn thì ngồi quán cà phê cạnh đó chờ, ai đến muộn thì… hẹn hôm sau vậy. Hỏi chị sao không thêm 100 đùm nữa, chị nói: “Ăn thòm thèm vậy mới nhớ lâu”. Chị Hòa “kế tục sự nghiệp cháo lòng” từ người mẹ nhưng đến đời chị, món “đùm” này mới được nâng cấp thành đặc sản của riêng quán chị.
Khách về Quảng Ngãi, nếu có ghé Thu Xà thăm chùa Ông và quê của thi sĩ Bích Khê, trên đường đi, quá cầu Bà He một quãng, đúng 7 giờ 30 mỗi ngày, nhìn bên tay trái cạnh quán cà phê Lung Linh, món cháo đùm chị Hòa sẽ đợi bạn. Nếu sau 9 giờ mới ghé quán, phải mất một ngày nữa mới biết thế nào là “đùm” trong cháo!
Trà Sơn
Báo Thanh Niên
[Read More...]


Bún chả cá Hội An




Thực khách bắt đầu có cảm giác khoan khoái khi được nhìn cách bày biện món bún hấp dẫn trên chiếc bàn nhựa nhỏ dọc lối đi trong quán nhỏ.

Không giống như bún chả Quy Nhơn, cũng không như bún bò Huế, bún chả cá Hội An có những đặc sắc hấp dẫn riêng. Đó là một tô bún to ứ ự, nước trong veo, bên trên trải đều những lát chả cá chiên vàng, chả cá hấp màu trắng mịn, chả cá khoanh tròn thơm ngọt, một vài lát măng tươi, đuôi hành lá xắt dọc và ít rau nêm. Kèm với tô bún còn có một đĩa rau xanh, một chén cà rốt, hành củ ngâm chua, một chén mắm ruốc xay nhuyễn, một đĩa ớt tỏi giã nhỏ; và đặc biệt hơn là một chén ớt trái xanh tươi xắt từng khoanh tròn nho nhỏ.
Loại ớt này có ở nhiều nơi nhưng chỉ ở xứ Quảng người ta mới xem nó như linh hồn của bữa ăn. Đúng, ớt xanh xứ Quảng có mặt khắp trong các bữa ăn bữa nhậu từ Tam Kỳ đến Hội An và cả các vùng quê trong tỉnh. Trái ớt này trồng ở đất Quảng Nam có hương vị riêng: cay, thanh nồng, dịu trên đầu lưỡi và êm đềm truyền cảm giác đến tận cuối bữa ăn. Ăn miếng bún chả cá, kèm các gia vị nói trên ta có cảm giác như được tích tụ hòa quyện một phần tinh hoa của đất và người xứ Quảng. Bữa ăn đã tạo cho người thưởng thức có một hương vị đậm đà, ấn tượng, khó quên.
Bún chả cá Hội An không còn xa lạ với thực khách muôn phương, kể cả những ông Tây khó tính, bởi trong từng tô bún ấy, miếng chả ấy có chút gì gần gũi, ngọt ngào khẳng khái như chính con người nơi đây. Hơn nữa, tôi chắc rằng, món ăn này được chế biến bằng nguyên liệu cá tươi nguyên chất với đôi bàn tay nhà nghề khéo léo, công phu nên hợp khẩu vị với nhiều thực khách từ các vùng miền.
Hiển nhiên, Hội An còn nhiều món độc khác như cao lầu, mì Quảng, cơm gà nhưng với tôi, tô bún chả cá bình dân trong một quán bình dân như thế cũng đủ để khẳng định rằng văn hóa ẩm thực nơi đây không thua kém bất cứ các món ngon ở các thành phố du lịch nào trên nước ta.
Đào Tấn Trực
Theo Báo Thanh Niên
[Read More...]


Don sông Trà




Có thể nói don là loài thủy sản “độc quyền” của dòng sông Trà – Quảng Ngãi. Đến miền quê núi Ấn sông Trà mà không ăn don thì coi như chưa đến vậy!
Don sau khi bắt về, đem ngâm cho nhả hết bùn ra rồi mới cho vào nồi luộc chín, sau đó đãi ra lấy ruột (thịt don). Ruột don chỉ to bằng cái móng tay út của trẻ con nên để có một tô don, có khi phải mất hàng trăm con như thế. Nước luộc don một lần nữa lại đem nấu với số ruột vừa đãi. Sở dĩ người ăn phải “hít hà” là do tô don vừa nóng lại phải vừa ăn với một loại ớt đặc biệt, dân miền Trung gọi là ớt tép, hoặc ớt chỉ thiên, lớn hơn đầu tăm một chút. Ớt này không quá cay, lại rất thơm, ăn với don là… số dzách! Ngoài chất “phụ gia” là ớt tép, tô don còn được rắc lên một ít hành lá và bánh tráng, một loại lương khô khá phổ biến ở Quảng Ngãi.
Những ai không phải là dân Quảng Ngãi, khi lần đầu ăn don thường ngộ nhận điều này: ăn hết tô don mà cứ ngỡ đó chỉ là “khúc dạo đầu”, vì thịt don rất ít, nước trong tô lại lễnh loãng, ngồi đợi bà chủ quán bưng món don “chính thức” ra. Sau đó chủ quán cũng ra nhưng không phải bưng món don chính thức như suy nghĩ của khách mà là ra để… tính tiền. Bấy giờ, vị cay của ớt, mùi thơm của don, chất đậm đà của hành và bánh tráng mới bắt đầu ngấm. Khách vừa tính tiền, vừa vỡ ra rằng mình vừa ăn xong một loại đặc sản. Cái lạ của don là khi cảm nhận được vị ngon của nó thì cũng là lúc phải đứng dậy tính tiền.
Ở Quảng Ngãi có rất nhiều quán don, nhưng ngon nhất là những quán ở vùng Phú Thọ, cách TP Quảng Ngãi chừng 5 km về phía đông. Nơi đây có cả một làng chuyên đi cào don ở cuối sông Trà.
Trà Sơn
Theo Báo Thanh Niên
[Read More...]


Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2011 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Hack Tutors